Những câu chuyện làm thay đổi cuộc sống mang đầy ý nghĩa giáo dục đạo đức, lối sống, nhân văn, ... hướng con người hoàn thiện bản thân. Song ngữ Anh - Việt giúp người đọc vừa cảm nhận bài học cuộc sống, vừa học tiếng Anh.

Saturday, December 13, 2008

Đường đua của niềm tin


Bản tiếng Anh của câu chuyện này. Thủ đô Mexico một buổi tối mùa đông năm 1968. Đồng hồ chỉ bảy giờ kém mười phút. Vận động viên John Stephen Arkwari người Tanazania tập tễnh kết thúc những mét cuối của đường đua Thế vận hôi Olympic với một chân bị băng bó. Anh là người cuối cùng về đích trong cuộc thi marathon năm ấy.

Những người chiến thắng cuộc thi đã nhận huy chương và lễ trao giải cũng đã kết thúc. Vì thế sân vận động hầu như vắng ngắt khi Arkwari, với vết thương ở chân đang rướm máu, cố gắng chạy vòng cuối cùng để về đích. Chỉ có Bud Greenspan, nhà làm phim tài liệu nổi tiếng là còn tại đó, đang ngạc nhiên nhìnanh từ xa chạy tới. Sau đó, không giấu được sự tò mò, Bud bước tới chỗ Arkwari đang thở dốc và hỏi tại sao anh lại cố vất vả chạy về đích như thế khi cuộc đua đã kết thúc từ lâu và chẳng còn khán giả nào trên sân nữa.

John Stephen trả lời bằng giọng nói hụt hơi: "Tôi rất hạnh phúc vì đã hoàn thành chặng đua với cố gắng hết mình. Tôi được đất nước gửi đi chín ngàn dặm đến đây không phải chỉ để bắt đầu cuộc đua - mà là để hoàn thành cuộc đua".

Unknown


Bản tiếng Anh của câu chuyện này

Đọc hết câu chuyện ...

Sự hoàn hảo của Chúa


Bản tiếng Anh của câu chuyện này. Tại Brooklyn, New York có ngôi trường Chush là nơi chuyên dành phục vụ những trẻ em thiểu năng trí tuệ. Sau một thời gian ở đây, ngoài những trẻ tham gia toàn bộ khoá học của trường thì số khác có thể chuyển sang tiếp tục học tại các trường bình thường khác.

Trong một bữa tối gây quỹ do trường Chush tổ chức, người cha một học sinh đang theo học tại đây đã có những lời phát biểu mà bất cứ ai tham dự hôm đó đều không thể quên được.

Sau khi hết lời ca ngợi ngôi trường cùng đội ngũ giáo viên tận tuỵ, người cha nói lớn: “Đâu là sự hoàn thiện với Shaya, con trai tôi? Chúa tạo ra mọi thứ đều hoàn hảo, nhưng sao con trai tôi không thể hiểu được những điều mà mọi đứa trẻ khác đều có thể. Sao con trai tôi lại không thể nhớ được chính xác mọi điều như các đứa trẻ bình thường khác. Vậy thì sự hoàn hảo của Chúa là ở đâu?”

Tất cả đám đông đều xúc động trước câu hỏi của người cha, họ đau đớn và sững sờ bởi nỗi thống khổ cũng như lời chất vấn đầy nhức nhối của ông. “Tôi tin rằng,” người cha tiếp tục, “khi Chúa tạo ra một đứa trẻ trong thế giới, sự hoàn thiện cho đứa trẻ mà Người mong mỏi chính là cách thức những người khác đối xử với đứa trẻ ấy”.

Sau đó, ông liền kể cho mọi người nghe câu chuyện về con trai mình:

Một buổi chiều nọ, Shaya cùng bố đi bộ qua khu công viên, lúc đó một vài đứa trẻ Shaya quen đang chơi bóng chày. Shaya hỏi, “Bố có nghĩ là chúng sẽ cho con chơi cùng không hả bố?” Bố Shaya hiểu rằng, con trai mình không thực sự khoẻ mạnh và có lẽ tất thảy lũ trẻ đang chơi đó đều không muốn cho nó vào đội của chúng. Nhưng ông cũng biết, nếu được cho phép chơi cùng, Shaya của ông sẽ rất hạnh phúc.

Thế là ông tới gần một trong số những cậu bé trên sân và xin cho Shaya được chơi cùng chúng. Cậu bé liếc nhìn xung quanh tham khảo ý kiến của các bạn chơi khác trong đội. Không có ý kiến phản đối, cậu bèn tự quyết định và nói: “Hiện tại, chúng mình đang thua sáu run (điểm trong bóng chày) và trận đấu đang ở lượt thứ tám. Tớ cho là Shaya có thể tham gia cùng đội mình và chúng mình sẽ thử thách cậu ấy ở lượt đánh thứ chín tới”.

Bố của Shaya đã rất phấn khởi khi nhìn cậu con trai há rộng miệng cười hết cỡ. Lũ trẻ bảo Shaya đeo găng tay vào và ra sân đảm nhiệm vị trí giữa sân.

Cho tới cuối lượt thứ tám thì đội của Shaya cũng ghi thêm được một số run nữa nhưng vẫn thua tới ba run. Và khi gần kết thúc lượt thứ chín, đội của Shaya tiếp tục ghi điểm và lúc này hai thành viên của đội tấn công đã bị loại, chỉ cần loại một người nữa thì đội của cậu sẽ giành chiến thắng. Theo dự kiến thì lúc này Shaya sẽ được tham gia trò chơi.

Nhưng liệu đội bóng có để Shaya chơi vào thời điểm quyết định này không, liệu họ có sợ sẽ vuột khỏi tay cơ hội chiến thắng đã gần kề?

Thật bất ngờ, Shaya đã được chọn là người đánh bóng. Gần như ai cũng hiểu điều đó là không thể vì Shaya thậm chí còn không biết cầm gậy chứ nói gì tới chuyện đánh bóng. Thế nhưng, khi Shaya bước tới đĩa nhà (khu vực đánh bóng) người ném bóng phía đối phương đã bước thêm lên vài bước để tung bóng nhẹ nhàng giúp Shaya ít nhất có thể chạm tới được. Dẫu thế thì khi cú giao bóng đầu tiên bay tới, Shaya vung gậy vẫn rất vụng về và đã đánh trượt bóng. Lần giao bóng tiếp theo, một cậu bé cùng đội tiến tới cạnh Shaya và cùng em nắm gậy, hướng về phía đối phương ném bóng chờ đợi.

Cậu bé giao bóng một lần nữa lại tiến thêm vài bước và ném bóng nhẹ nhàng về phía Shaya. Thế là Shaya với người đồng đội cùng vung gậy lên và đánh vào quả bóng đang từ phía người ném chầm chậm bay tới. Liền sau đó, người ném bắt được bóng và hoàn toàn có thể dễ dàng ném về phía căn cứ thứ nhất. Nhưng nếu làm như thế thì Shaya sẽ bị loại và trận bóng sẽ kết thúc. Thế là cậu bé ném bóng giữ lấy quả bóng vừa bắt và ném bổng vòng cung lên phía sân bên phải, rất xa vị trí của người đồng đội đang đứng ở căn cứ thứ nhất.

Mọi người bắt đầu thét lớn cổ vũ, “Shaya, hãy chạy tới căn cứ thứ nhất. Chạy đi!”. Thế là chưa từng chạy một lần trong đời nhưng lần này Shaya vụt lao tới căn cứ thứ nhất, mắt mở to thoáng chút lo sợ. Khi cậu chạy tới được căn cứ thứ nhất thì người chặn bóng bên phải đã bắt được bóng. Bình thường ra, cầu thủ chặn bóng sẽ ném bóng cho người chốt giữ căn cứ thứ hai và người này sẽ cố chạm được vào người Shaya để loại cậu. Nhưng cậu bé chặn bóng hiểu ngay ý đồ của người ném, thế là cậu liền ném bóng lên cao, vượt qua đầu của người đang chốt giữ căn cứ thứ ba.

Lúc này mọi người lại hô to, “Chạy tới căn cứ thứ hai đi Shaya, chạy đi.” Thế là Shaya lại dốc sức chạy tới căn cứ thứ hai trong khi những người chạy trước cậu đã quây tròn phấn khích quanh các căn cứ hướng về phía đĩa nhà. Lúc Shaya chạy tới được căn cứ thứ hai rồi, một cậu bé đội bạn chặn Shaya lại, lái Shaya theo hướng về căn cứ thứ ba và la lên, “Chạy mau về căn cứ thứ ba.”

Khi Shaya đã chạy tới căn cứ cuối cùng, tất cả các cậu bé của cả hai đội đều chạy sau Shaya và la lớn: “Shaya, chạy về đĩa nhà đi!” Thế là Shaya chạy về đĩa nhà, bước lên đĩa nhà và cả 18 cậu bé liền công kênh Shaya trên vai, biến cậu thành một anh hùng như thể cậu vừa đánh một cú quyết định thắng lợi cho đội nhà.

“Và ngày hôm đó tôi nghĩ rằng,” người cha kết thúc câu chuyện khi nước mắt đã lăn dài trên khuôn mặt, “18 cậu bé kia đã đạt tới cái ngưỡng hoàn hảo mà Chúa dành cho các em”.

Translated by Duong Kim Thoa (Dan Tri)


Bản tiếng Anh của câu chuyện này

Đọc hết câu chuyện ...

Tre và dương xỉ


Bản tiếng Anh của câu chuyện này. Một ngày, tôi quyết định sẽ từ bỏ. Từ bỏ công việc, mọi mối quan hệ, từ bỏ mọi mong ước, hi vọng của mình. Tôi muốn từ bỏ cuộc sống. Tôi đã đến tìm và nói chuyện với Chúa.

“Thưa Chúa, Người có thể cho con một lí do để không từ bỏ cuộc sống của con không?”.

Chúa rất ngạc nhiên khi tôi hỏi câu đó. “Con hãy nhìn đây” - Chúa lên tiếng - “Con có nhìn thấy cây dương xỉ và cây tre này không?”.

“Có”- Tôi kính cẩn trả lời.

“Khi ta gieo hạt của dương xỉ và cây tre, ta đã chăm sóc chúng rất cẩn thận. Ta cho chúng ánh sáng, ta tưới đầy đủ nước cho chúng. Cây dương xỉ lớn rất nhanh trên mặt đất. Màu xanh của nó chẳng mấy mà phủ kín cả một vùng.

Nhưng chẳng có dấu hiệu gì từ hạt giống của cây tre cả. Tuy nhiên, ta đã không từ bỏ hạt mầm đó. Một năm trôi qua, Dương xỉ nhanh chóng phát triển lớn mạnh. Nhưng một lần nữa, không một dấu hiệu của hạt giống cây tre. Và cũng một lần nữa ta không từ bỏ” - Chúa chậm rãi kể.

“Bước sang năm thứ ba, vẫn chẳng thấy gì từ hạt giống cây tre cả. Nhưng ta vẫn không từ bỏ. Năm thứ tư cũng không có gì khác. Ta vẫn tiếp tục công việc và không từ bỏ…

… Đến năm thứ năm, một mầm xanh vươn mình lên khỏi mặt đất. So với đám dương xỉ xung quanh, nó quá nhỏ bé và chẳng có chút ấn tượng nào. Nhưng chỉ 6 tháng thôi, cây tre đã cao hơn 30 mét. Nó đã mất tới 5 năm để phát triển bộ rễ. Rễ của nó rất khoẻ mạnh và có thể cung cấp cho nó tất cả những gì cần thiết để sống và vươn lên. Ta đã không cho cây tre một chút thử thách nào”.

“Con có biết không, con của ta, tất cả thời gian mà con phải vật lộn để sống, con đã xây dựng và hoàn thiện gốc rễ của mình” - Chúa nói tiếp.

“Ta đã không rời bỏ cây tre. Và ta cũng sẽ không bao giờ xa con. Đừng so sánh bản thân con với bất cứ thứ gì khác.

“Cây tre và dương xỉ có cách sống khác nhau mặc dù mục tiêu của chúng đều là màu xanh cho trái đất. Cơ hội của con sẽ đến…” - Chúa khắng định - “… Con sẽ vươn cao”.

“Liệu con có thể vươn cao đến đâu thưa Người?”.

“Vậy con có biết cây tre vươn cao đến đâu không” - Chúa không trả lời mà hỏi lại.

“Cao hết mức mà nó có thể phải không ạ?” - tôi ngập ngừng hỏi lại.

“Đúng thế” - Chúa mỉm cười - “Hãy cho ta cảm thấy tự hào khi thấy con vươn đến đỉnh cao nhất mà con có thể”.

Đứng tiếc nuối những ngày đã qua trong đời. Những ngày may mắn, tốt đẹp mang cho bạn hạnh phúc. Những ngày đen tối khó khăn mang lại cho bạn nhiều kinh nghiệm. Tất cả đều cần cho cuộc sống.

Translated by Nguyen Thi Minh Nguyet


Bản tiếng Anh của câu chuyện này

Đọc hết câu chuyện ...

Điểm yếu hay sức mạnh


Bản tiếng Anh của câu chuyện này. Đôi khi điểm yếu nhất của bạn lại có thể trở thành sức mạnh to lớn. Hãy lấy ví dụ từ câu chuyện về cậu bé 10 tuổi quyết định học judo, bất chấp việc mình chỉ còn một cánh tay sau tai nạn giao thông.

Cậu bé đã bắt đầu những bài học judo đầu đầu tiên với một ông giáo người Nhật khá nhiều tuổi. Cậu làm rất tốt những yêu cầu của ông giáo. Nhưng cậu không hiểu tại sao, sau ba tháng, ông giáo vẫn chỉ dạy cậu duy nhất một động tác di chuyển.

"Thưa thầy" - Không kiềm chế nổi tò mò, cậu bé đánh bạo hỏi - "Tại sao con chỉ được học mỗi một động tác di chuyển thế ạ?".

"Động tác đó, con chỉ biết là động tác di chuyển, nhưng đó là cách di chuyển duy nhất con sẽ cần để có thể chiến thắng" - Ông giáo nhẹ nhàng giải thích.

Dù không hiểu được ý thầy, cậu bé vẫn tin tưởng và tiếp tục luyện tập chăm chỉ.

Vài tháng sau, ông giáo đưa cậu bé đến tham gia cuộc thi đấu đầu tiên. Thật ngạc nhiên, cậu đã dễ dàng chiến thắng trong hai trận đầu. Trận đấu thứ ba thật là một cuộc đấu khó khăn, nhưng cậu vẫn kiên cường chiến đấu và cuối cùng giành chiến thắng với duy nhất một lối di chuyển. Có thể tham gia trận chung kết, cậu bé hết sức ngạc nhiên về thành tích của mình.

Ở trận đấu thứ 4 này, đối thủ của cậu lớn hơn, khỏe hơn và giàu kinh nghiệm hơn. Trận đấu diễn ra trong một thời gian khá dài, trọng tài lo lắng cậu bé có thể quá sức nên đề nghị thời gian nghỉ ngơi. Nhưng ông giáo lại không đồng ý và yêu cầu trọng tài cho trận đấu tiếp tục.

Trận đấu nhanh chóng được tiếp tục, đối thủ của cậu bé phạm một lỗi cơ bản: Không phòng vệ cẩn thận. Cậu bé đã dùng bài học về cách di chuyển để đánh bại đối thủ. Cậu trở thành người chiến thắng trong trận đấu và giành chức vô địch.

Trên đường về nhà, cậu bé và ông giáo đã cùng nhau xem lại từng bước trong mỗi trận đánh, sau đó ông giáo khuyến khích cậu nói ra điều đang thắc mắc trong đầu.

"Thưa thầy, làm sao con có thể chiến thắng tất cả các đối thủ chỉ với một bước di chuyển chứ?".

"Con chiến thắng vì hai lí do" - Ông giáo phân tích - "Thứ nhất, con thực hiện một trong các thế quật ngã khó nhất của judo. Và thứ hai, với cách phòng thủ đó, con có thể đã thu hút tất cả sự tập trung của đối thủ vào chỗ yếu nhất của mình là cánh tay để rồi quật ngã họ".

Translated by Nguyen Thi Minh Nguyet (Dan Tri)


Bản tiếng Anh của câu chuyện này

Đọc hết câu chuyện ...

Anh bạn nghe thấy gì?


Bản tiếng Anh của câu chuyện này. Hai người, một người Mỹ và bạn anh ta, đi bộ dọc theo con đường đến trung tâm thành phố. Đó là giờ tan tầm buổi trưa nên các con phố thật đông đúc. Tiếng ô tô, tiếng tàu điện, tiếng cười nói, tất cả cùng vang lên tạo thành một thứ âm thanh hỗn tạp.

Đột nhiên, anh chàng người Mỹ nói: "Tôi nghe thấy tiếng dế kêu đâu đó". Người bạn ngạc nhiên hỏi lại: "Gì cơ? Anh nói gì chứ? Làm sao mà có thể nghe thấy tiếng dế kêu trong cái đống âm thanh này".

"Không, tôi chắc chắn là như thế", anh chàng người Mỹ quả quyết. "Tôi đã nghe thấy tiếng dế kêu mà".

"Thật là điên rồ" - Người bạn lẩm bẩm.

Anh chàng người Mỹ im lặng, lắng nghe và đột nhiên băng qua đường đến bên mấy cái chậu cây đang cố gắng vươn lên. Anh ta cúi xuống, nhẹ nhàng chỉ cho người bạn lúc này đang hết sức ngạc nhiên một chú dế nhỏ đang ra sức hát bài hát của mình.

"Thật là kì lạ!", người bạn thốt lên. "Anh có đôi tai phi thường!".

"Không", anh chàng người Mỹ nói, "tai của tôi cũng chẳng khác tai của anh đâu. Tôi nghe thấy chỉ vì tôi muốn nghe thấy thôi".

"Sao có thể thế được", người bạn phản đối, "tôi không thể nghe thấy tiếng dế kêu trong tiếng ồn ào như thế".

"Không, có thể chứ. Nó chỉ phụ thuộc vào cái gì quan trọng với anh thôi. Nào hãy để tôi chỉ cho anh".

Anh ta lôi trong túi ra một vài đồng xu, thận trọng ném xuống đường. Và mặc dù đường phố đông đúc vẫn om sòm xung quanh, nhưng họ vẫn nghe thấy tiếng những đồng xu leng keng rơi xuống nền đường.

"Đó, anh thấy chưa, điều quan trọng nhất là anh muốn nghe thấy cái gì thôi".

Translated by Nguyen Thi Minh Nguyet (Dan Tri)


Bản tiếng Anh của câu chuyện này

Đọc hết câu chuyện ...

Sức mạnh của sự lo lắng


Bản tiếng Anh của câu chuyện này. Một buổi sáng, một người đàn ông gặp thần Chết trong thành phố. Ông ta hỏi thần Chết: “Ngài đang làm gì trong thành phố của tôi vậy?” - “Ta sẽ lấy đi mạng sống của 100 người trong thành phố này” - Thần Chết trả lời.

“Thật là tồi tệ” - người đàn ông nói.

“Đúng thế” - Thần Chết đồng ý - “Nhưng đó là công việc của ta và ta phải làm thôi”.

Người đàn ông nhanh chóng loan báo cho mọi người trong thành phố về kế hoạch của thần Chết.

Nhưng khi tối đến, người đàn ông kia gặp lại thần Chết với một câu hỏi lớn:

“Thần nói với tôi là lấy đi cuộc sống của 100 người, vậy sao lại có tới 1000 người qua đời trong ngày hôm nay?”.

“Ta vẫn giữ lời của mình đó chứ” - Thần Chết trả lời - “Ta chỉ lấy đi 100 người, và lo lắng đã lấy đi số người còn lại”.

Việc lo lắng thái quá có thể là nguyên nhân của rất nhiều căn bệnh như chứng đau nửa đầu, chứng viêm khớp, các vấn đề về tim mạch, viêm ruột, chứng đau lưng, các vấn đề về tiêu hóa và tất nhiên là cả cái chết nữa.

Hãy để những hối tiếc của ngày hôm qua, những lo lắng của ngày mai sang một bên và thay vào đó, hãy nhận bình yên trong cuộc sống của ngày hôm nay.

Translated by Nguyen Thi Minh Nguyet (Dan Tri)


Bản tiếng Anh của câu chuyện này

Đọc hết câu chuyện ...

Hoa hồng


Bản tiếng Anh của câu chuyện này. Ngày đầu tiên ở trường đại học, giáo sư của chúng tôi tự giới thiệu mình và thử thách đám học trò bằng cách gợi ý để chúng tôi tìm hiểu về những người chưa hề quen biết.

Khi tôi đứng dậy và nhìn quanh thì có một bàn tay lịch sự chạm nhẹ vào vai tôi. Tôi quay lại và nhìn thấy một bà cụ nhỏ bé, da nhăn nheo đang nhìn tôi cười tươi tắn, nụ cười làm bừng sáng con người bà.

Bà cụ nói: "Chào cậu bé đẹp trai, tên ta là Rose. Năm nay ta tám mươi bảy tuổi. Chúng ta ôm nhau được chứ?”

Tôi cười to và nhiệt tình đáp lại: "Tất nhiên là được ạ!", và bà cụ xiết chặt lấy tôi.

"Sao bà lại đến trường vào cái tuổi còn quá trẻ trung và non nớt như thế này ạ?". Tôi hỏi.

Bà cụ nói đùa: "Ta đến đây để kiếm một người chồng giàu có, kết hôn, rồi sinh con, rồi sau đó ta sẽ nghỉ hưu và đi du lịch”.

"Không phải vậy chứ?". Tôi đang rất tò mò muốn biết cái gì đã thúc đẩy bà cụ nhận lấy một thử thách như thế này vào cái tuổi ấy.

"Thực ra thì ta luôn mơ về một tấm bằng đại học, và giờ thì ta sắp có nó rồi". Bà nói.

Sau buổi học, tôi và Rose cùng đi đến khu liên hợp dành cho sinh viên, và ở đó chúng tôi cùng uống chung một cốc sôcôla đi kèm trứng và đá. Chúng tôi nhanh chóng trở thành bạn.

Trong ba tháng kế tiếp, ngày nào chúng tôi cũng cùng về và nói chuyện không ngừng.Tôi lúc nào cũng lắng nghe như thể bị thôi miên khi bà cụ chia sẻ với tôi những kinh nghiệm sống của bà.

Sau hơn một khóa học của năm, Rose trở thành một hình mẫu của trường và bà dễ dàng kết bạn với mọi người khi đi đến bất kỳ đâu. Bà thích mặc đẹp và cũng rất thích thú với các biệt danh mà các sinh viên trong trường đặt ra cho bà. Bà đã sống xứng đáng với những tên gọi đáng yêu ấy.

Cuối học kỳ, chúng tôi mời bà đến phát biểu trong buổi liên hoan của đội bóng. Bà được giới thiệu và bước lên khán đài. Khi chuẩn bị nói thì bà vô ý làm rơi mất ba trên năm tờ của bài phát biểu đã chuẩn bị sẵn.

Không hài lòng và có vẻ như hơi xấu hổ về việc ấy, bà tựa người vào chiếc micro và nói đơn giản: "Tôi rất xin lỗi vì mình đã hơi hậu đậu. Tôi đã uống hộ cho Lent và bây giờ thì hình như cái chất whisky ấy đang giết tôi hay sao ấy. Tôi sẽ không nhặt mấy tờ giấy này lên vì tôi sẽ kể cho các bạn nghe những gì mà tôi biết".

Chúng tôi cười khi bà hắng giọng và bắt đầu nói: “Chúng ta không ngừng hoạt động vì chúng ta già, mà chúng ta già là vì chúng ta ngừng hoạt động. Chỉ có bốn bí quyết để sống trẻ trung, ấy là sống vui vẻ, cố gắng để đạt lấy thành công, phải cười và tìm kiếm những điều hài hước mỗi ngày, và bạn phải có những giấc mơ. Xung quanh chúng ta có rất nhiều người đi lại vật vờ mỗi ngày, họ thậm chí không biết là mình đang chết dần đi”.

"Có một sự khác biệt lớn giữa lớn lên và trưởng thành. Nếu bạn mười chín tuổi và cứ nằm trên giường suốt ngày trong một năm tròn, thì dù bạn không chịu làm gì thì sang năm bạn cũng sẽ sang tuổi hai mươi. Năm nay tôi tám mươi bảy tuổi và nếu tôi cứ nằm nhà mà chẳng chịu mó tay đụng chân vào việc gì thì sang năm tôi cũng cứ sang tuổi thứ tám tám. Tất cả mọi người đều có thể lớn lên. Công việc ấy chẳng đòi hỏi bạn phải có tài hay khả năng gì đặc biệt. Điều đáng kể là bạn trưởng thành, tức là bạn luôn tìm thấy những cơ hội trong mọi sự thay đổi.

Đừng để mình phải nuối tiếc. Những người già thường nuối tiếc về những gì mà họ đã không làm nhiều hơn là hối hận về những gì họ đã làm.

Những người duy nhất sợ cái chết là những người có quá nhiều điều phải nuối tiếc".

Bà kết thúc bài nói chuyện của mình bằng cách dũng cảm hát bài hát: "The Rose" và đố chúng tôi học thuộc lời bài hát rồi áp dụng vào trong cuộc sống.

Vào năm cuối cùng, Rose hoàn thành khóa học mà bà đã bắt đầu từ nhiều năm trước đó. Một tuần sau lễ tốt nghiệp, bà ra đi trong giấc ngủ thanh bình.

Hơn 200 sinh viên đã đến dự lễ tang bà để tỏ lòng kính trọng đến người đã dạy cho họ biết bằng ví dụ của chính bản thân mình rằng không bao giờ là quá muộn để trở thành một con người như bạn muốn.

Translated by Tran Ha Thu


Bản tiếng Anh của câu chuyện này

Đọc hết câu chuyện ...

Ngụ ngôn về giáo dục trẻ


Bản tiếng Anh của câu chuyện này. Có sự khác nhau giữ học vấn và kinh nghiệm.

- Học vấn là những gì bạn tiếp thu được nhờ đọc sách báo.
- Kinh nghiệm là những gì mà bạn có được không phải tư đọc sách !

Nhưng kiến thức bao la phải được đúc kết từ học vấn lẫn kinh nghiệm.

Một giáo viên trẻ nằm chiêm bao thấy một thiên thần xuất hiện trước mặt anh và nói : "Anh sẽ được ban cho một đứa bé. Đứa bé này khi trưởng thành, sẽ là người lãnh đạo thế giới. Anh sẽ trang bị cho cô bé như thế nào để cô nhận ra rằng mình thông minh, tự tin, vừa quyết đoán vừa nhạy cảm, cởi mở, nhưng mạnh mẽ về tính cách? Nói tóm lại, anh sẽ áp dụng hình thức giáo dục nào để cô bé trở thành một nhà lãnh đạo thế giới thực sự vĩ đại "

Thầy giáo trẻ thức dậy, đổ mồ hôi lạnh. Điều đó chưa bao giờ xãy ra trong giấc mơ của anh - ai đó là học trò trong hiện tại và tương lai của anh có thể là người được miêu tả trong giấc mơ. Liệu anh đã chuẩn bị cho chúng bước lên vị trí mà chúng khao khát? Anh ta suy nghĩ "Bài giảng của tôi sẽ thay đổi thế nào khi tôi biết rằng một trong những học trò của tôi là người đó". Dần dần anh bắt đầu hình thành kế hoạch trong đầu.

Có lẽ người sinh viên này cần kinh nghiệm cũng như được hướng dẫn. Người ấy cũng cần biết cách xử lý nhiều loại vấn đề. Người ấy phải trưởng thành cả về tư cách lẫn kiến thức. Người ấy cần có lòng tự tin, khả năng lắng nghe và phối hợp với người khác. Người này phải thấu hiểu và tôn trọng quá khứ, nhưng vẫn lạc quan về tương lai. Người ấy cần phải biết giá trị của việc "Học, học nữa, học mãi" để giữ cho mình một cái đầu nhanh nhẹn và ham học hỏi.

Người ấy cần trưởng thành trong việc thấu hiểu người khác và trở thành một sinh viên có ý thức. Cuối cùng, người ấy nên đặt ra những tiêu chuẩn khắt khe cho mình và học cách tự giữ kỹ luật, tuy nhiên sinh viên ấy cũng cần tình yêu thương và sự khuyến khích, điều đó sẽ giúp người ấy khơi dậy tình yêu thương và lòng tốt của bản thân.

Cách dạy của anh thay đổi hẵn. Trong mắt anh, những cô bé cậu bé trong lớp anh đều trở thành nhà lãnh đạo thế giới tương lai. Anh nhìn mỗi học trò không phải với suy nghĩ chúng đang là ai mà chúng có thể là ai. Anh điều hỏi điều tốt nhất từ học trò và tôi luyện nó thành tình yêu thương. Anh dạy chúng như thể tương lai của cả thế giới này phụ thuộc vào bài giảng của anh.

Một thời gian sau, một người phụ nữ mà anh biết trở thành một nhân vật xuất chúng trên thế giới. Anh nhận ra rằng cô ấy chắc hẵn là cô bé đã được miêu tả trong giấc mơ của anh. Chỉ có điều cô ấy không là một trong những học trò của anh, mà là con gái anh. Trong số tất cả người thầy mà cô đã gặp trong cuộc đời, cha cô là người thầy vĩ đại nhất.

Ai đó nói với tôi rằng: "Trẻ em là những thông điệp sống ta gửi đi mà không thể biết thời gian và điểm đến". Nhưng đây không đơn giản là một câu chuyện hàm ý một người thầy giáo không tên. Nó là một câu chuyện về bạn và tôi - bất kể chúng ta có là bậc cha mẹ hay giáo viên. Và câu chuyện này, chính xác hơn là câu chuyện của tất cả mọi người, thực sự bắt đầu như thế này:

"Anh sẽ được ban cho một đứa bé. Đứa bé này, khi trưởng thành sẽ là..."

Bạn hãy tìm phần kết cho câu nói. Nếu không là một vị lãnh đạo thế giới, thì có phải là một người cha vĩ đại không? Hay một người thầy giáo lớn? Một thầy thuốc thiên tài? Một chuyên gia xử lý vấn đề đầy sáng tạo? Một nhà nghệ thuật đầy nhiệt huyết? Một nhà hảo tâm?

Không ai biết bạn sẽ gặp đứa trẻ ấy ở đâu và như thế nào.

Nhưng hãy tin rằng tương lai của cô bé, cậu bé ấy tuỳ thuộc vào ảnh hưởng của bạn và một điều đó khác thường sẽ xảy ra. Sẽ không còn đứa trẻ nào tầm thường trong mắt bạn nữa. Và bạn sẽ không chỉ là bạn.

Translated by Huynh Lan (A member of khuccamta.net forum)


Bản tiếng Anh của câu chuyện này

Đọc hết câu chuyện ...

Chơi vĩ cầm chỉ với 3 dây


Bản tiếng Anh của câu chuyện này. Ngày 18-11-1995, Itzhak Perlman, nghệ sĩ vĩ cầm, xuất hiện trên sân khấu trong một buổi hòa nhạc tại Trung tâm Lincoln, thành phố New York.

Nếu bạn từng có mặt tại các buổi hòa nhạc của Perlman, bạn biết rằng để lên được sân khấu không phải là chuyện dễ dàng đối với anh do bị bại liệt khi còn bé và vì thế anh đã phải mang hai cái nẹp ở hai chân và bước đi với sự trợ giúp của hai cái nạng. Khi anh đi qua sân khấu, đến chỗ ngồi của mình từng bước một cách khó khăn nhưng không kém phần oai vệ là một hình ảnh đầy xúc động. Sau đó Perlman chậm rãi ngồi xuống ghế, đặt cặp nạng trên sàn nhà, tháo hai cái móc ở chân ra, gấp một chân về phía sau và duỗi một chân ra phía trước. Kế đó anh cúi xuống và nhặt cây vĩ cầm lên, đặt nó vào vị trí, gật đầu với người chỉ huy dàn nhạc và bắt đầu chơi.

Nhưng lần này một biến cố nhỏ đã xảy ra. Ngay khi Perlman vừa chơi được một vài nhịp đầu tiên, 1 trong 4 sợi dây đàn trên cây vĩ cầm của anh bị đứt. Người ta có thể nghe nó kêu “rắc” một tiếng, âm thanh như một tiếng súng nhỏ lan ra cả phòng. Khán giả tưởng rằng Perlman sẽ cài lại những cái móc, nhặt lên cặp nạng và đi khập khiễng ra khỏi sân khấu để tìm hoặc một cây đàn khác hoặc một sợi dây khác cho cây đàn đang sử dụng. Nhưng Perlman không làm như vậy. Thay vào đó, anh ngồi im, khép đôi mắt lại trong giây lát và sau đó ra dấu cho người chỉ huy dàn nhạc bắt đầu trở lại.

Dĩ nhiên ai cũng biết rằng không thể chơi với cây vĩ cầm chỉ còn 3 dây trong một bản nhạc giao hưởng. Nhưng đêm nay Perlman đã chơi với cây đàn chỉ còn 3 dây của mình bằng tất cả sự đam mê, cuồng nhiệt. Và nhìn ở một góc cạnh nào đó, dường như anh đang thay đổi, sáng tạo giai điệu của những sợi dây đàn còn lại để phát ra những âm thanh chưa từng có bao giờ.

Khi Perlman chấm dứt, có một sự im lặng đầy kính trọng bao trùm cả không gian, hoan hô. Tiếng vỗ tay nghe được từ mọi góc của khán phòng. Perlman mỉm cười, lau những giọt mồ hôi trên trán, cúi chào khán giả và bằng một giọng nhỏ nhẹ nhưng nghiêm túc, anh nói: "Như quý vị đã biết, thỉnh thoảng chức năng của người nghệ sĩ là phải sáng tạo ra những cái mới để thay thế cho những cái đã mất đi".

Câu nói có sức mạnh làm sao. Nó luôn luôn tồn tại trong ý nghĩ của tôi kể từ khi tôi nghe nó. Và phải chăng đó là định nghĩa chính xác nhất không phải chỉ cho người nghệ sĩ mà là cho tất cả chúng ta.

Translated by H.T


Bản tiếng Anh của câu chuyện này

Đọc hết câu chuyện ...

Ba viên bi màu đỏ


Bản tiếng Anh của câu chuyện này. Trong suốt những năm khủng hoảng ở cái bang Idaho bé nhỏ nằm phía Đông Nam nước Mỹ này, tôi thường đến cửa hàng nhỏ của ông Miller để mua rau quả tươi. Thực phẩm và tiền bạc đều khan hiếm, nên đôi khi chúng tôi dùng hình thức đổi chác.

Một hôm, khi ông Miller đang bỏ một ít khoai tây vào túi cho tôi, thì tôi nhìn thấy một cậu bé gầy gò, ăn mặc rách rưới nhưng khá sạch sẽ, đang nhìn giỏ đựng quả đậu xanh với ánh mắt đói khát. Tôi trả tiền xong liền đứng lại nghe cuộc nói chuyện giữa ông Miller và cậu bé ăn mặc rưới kia.

- Chào Barry, cháu khỏe không? - Tiếng của ông Miller.

- Chào ông Miller, cháu khỏe ạ! Cháu nghĩ đang ngắm giỏ quả đậu này. Trông chúng ngon thật đấy!

- Chúng ngon lắm, Barry ạ ! Mẹ cháu khỏe không?

- Cũng bình thường ạ? Hình như mẹ cháu đang khỏe lên.

- Tốt! Ta có thể giúp gì cho cháu nào?

- Không ạ, thưa ông. Cháu chỉ ngắm giỏ quả đậu thôi?

- Cháu có muốn lấy một ít không?

- Không ạ, thưa ông. Cháu không có tiền trả đâu.

- Được, cháu có gì để đổi nào?

- Cháu? - Tiếng cậu bé ngập ngừng - Cháu chỉ có một viên bi cháu mới chơi thắng được thôi ạ !

- Thế à? Cho ta xem nào!

- Đây, viên đẹp nhất đấy ạ !

- Nó màu xanh à... Nhưng ta đang cần viên màu đỏ. Cháu có viên màu đỏ không?

- Cháu không nhớ, để cháu xem...

- Này, cháu đem giỏ đậu này về nhà đi và lần sau mang cho ta viên đỏ nhé!

- Chắc chắn rồi, cảm ơn ông?

Có hai cậu bé nữa như thế ở làng này. Chúng nghèo lắm. Ông Jim nhà tôi cứ thích đổi chác, cho chúng quả đậu, táo, cà chua và những thứ khác. Cứ khi chúng giơ viên bi màu xanh ra, ông ấy lại bảo chúng cầm một ít rau quả về nhà và lần sau mang viên bi màu đỏ cho ông ấy. Vừa để chúng chịu mang rau quả về nhà ngay, vừa để chúng cảm thấy chúng thực sự đã làm gì cho để trao đổi, chứ không phải được cho không. Tôi thấy rất cảm phục ông Miller. Không lâu sau, tôi chuyển nhà, nhưng câu chuyện về ông Miller, người nông dân nhân hậu ấy, thì tôi không bao giờ quên.

Nhiều năm sau, lại có lần tôi quay về làng quê ở Idaho và rất buồn vì trong thời gian ở đó thì nghe tin ông Miller mất. Khi cùng vài người bạn cũ đến nhà ông Miller, tôi thấy ở đó có ba chàng trai trẻ, trông rất thành đạt. Họ đến gần bà Miller, ôm lấy bà và nói những lời an ủi. Rồi từng người một, họ đến bên ông Miller đang nằm đó, chạm những bàn tay nóng ấm của mình vào bàn tay lạnh lẽo của ông Miller và lau nước mắt.

Rồi tôi cũng lại gần bà Miller và nói rằng tôi vẫn nhớ câu chuyện về những viên bi ve ngày nào. Bà Milìer nói:

- Ba chàng trai lúc nãy chính là những cậu bé ngày trước, tôi kể với cô. Họ vừa nói với tôi là họ đã biết ơn ông Jim và những gì ông đã "đổi chác" cho họ biết chừng nào. Và cuối cùng, bây giờ, khi ông Jim không còn đòi họ đổi những viên bi màu nào nữa, thì họ quay lại để tỏ lòng biết ơn ông ấy. Ông Jim luôn nghĩ mình là người giàu có nhất ở bang Idaho này với những viên bi ông có được.

Rất nhẹ nhàng, bà Miller nhấc bàn tay của ông Jim lên. Dưới bàn tay ông là ba viên bi đỏ, sáng bóng và trong veo.

Translator unknown


Bản tiếng Anh của câu chuyện này

Đọc hết câu chuyện ...

Cái bát gỗ


Bản tiếng Anh của câu chuyện này. Tôi cam đoan bạn sẽ nhớ được câu chuyện của cái bát gỗ này vào ngày mai, tuần tới, tháng tới hay năm tới nữa.

Một ông già gầy yếu phải dọn đến ở chung với con trai, con dâu và một đứa cháu nội lên 4 tuổi. Ông già hai tay run rẩy, mắt đã mờ, chân bước không vững. Cả gia đình ngồi ăn chung nơi bàn ăn.

Nhưng người ông lớn tuổi với hai tay lụng cụng và đôi mắt kèm nhèm khiến cho việc ăn uống rất khó khăn. Những hạt đậu rớt từ muỗng xuống sàn nhà. Khi ông với tay lấy ly sữa thì sữa đổ tóe ra khăn bàn.

Người con trai và con dâu rất bực mình vì phải lau chùi dọn dẹp cho ông. Người con trai nói: “Chúng mình phải làm một cái gì để giải quyết vấn đề này. Anh chán ngấy cái vụ ông đánh đổ sữa, ăn uống nhồm nhoàm, và đánh đổ thức ăn trên sàn nhà.”

Sau đó hay vợ chồng bàn nhau đặt một cái bàn trong góc phòng. Ở đó, người ông phải ngồi ăn một mình trong khi cả gia đình ăn uống vui vẻ. Vì ông cụ đã đánh vỡ mấy cái đĩa, thức ăn của ông được bỏ vào một cái bát gỗ.

Khi cả gia đình liếc nhìn về phía ông cụ, đôi khi thấy ông chảy nước mắt khi phải ngồi một mình. Vậy mà, mỗi khi ông đánh rơi muỗng nĩa hay đánh đổ thức ăn, hai vợ chồng vẫn còn la rầy ông.

Đứa cháu 4 tuổi quan sát mọi sự trong thinh lặng.

Một tối kia, ngay trước bữa ăn, người cha thấy đứa con nghịch với mấy khúc gỗ vụn trên sàn. Anh ta dịu dàng hỏi: “Con đang làm gì vậy?”

Đứa bé cũng trả lời dịu dàng không kém: “Ồ con đang làm một cái bát nhỏ cho ba và mẹ ăn khi con lớn lên.” Nó cười và tiếp tục làm việc.

Những lời nói của đứa trẻ làm cho cặp vợ chồng sững sờ không nói nên lời. Rồi những giọt nước mắt tuôn rơi trên mặt họ. Dù không nói ra lời, cả hai đều hiểu phải làm cái gì.

Tối hôm ấy, người con trai, cầm tay bố và dịu dàng dắt ông cụ trở về bàn ăn của gia đình. Và trong suốt những ngày còn lại của cuộc đời ông cụ được ngồi ăn chung với gia đình. Và từ đó cả chồng lẫn vợ dường như không còn chú ý đến những lúc muỗng nĩa rơi, sữa bị đổ tràn hay khăn bàn bị dính bẩn.

Điểm son của bài học này là, dù bất cứ cái gì xẩy ra hôm nay có tệ đến đâu, đời sống vẫn tiếp diễn, và ngày mai sẽ tốt đẹp hơn.

Tôi cũng học được rằng chúng ta có thể biết nhiều về một con người qua phản ứng của người này trước bốn điều này: một ngày mưa buồn, người già yếu, mất hành lý, và những giây đèn Giáng Sinh bị vướng mắc.

Tôi đã học được rằng, dù cho bạn có yêu hay không thương yêu cha mẹ bạn, bạn cũng sẽ nhớ tiếc họ, khi họ đã đi ra khỏi cuộc đời của bạn.

Tôi đã học được rằng: kiếm sống trong đời không giống như là tạo dựng một cuộc đời.

Tôi cũng học được rằng, đời sống đôi khi ban cho ta một cơ may thứ hai.

Tôi cũng học được rằng chúng ta không thể nào chỉ biết tìm cách ôm bắt tất cả mọi sự trong đời. Chúng ta cũng phải có thể ném ra và cho đi.

Tôi đã học được rằng: nếu chúng ta theo đuổi hạnh phúc, nó sẽ lẫn tránh ta. Nhưng nếu chúng ta tập trung vào gia đình, bạn bè, vào nhu cầu của người khác, vào công việc của mình và cố gắng làm mọi sự tốt đẹp nhất, thì hạnh phúc sẽ tìm đến với ta.

Tôi đã học được rằng mỗi khi tôi quyết định một điều gì với một trái tim rộng mở, thì tôi thường quyết định đúng đắn.

Tôi đã học được rằng ngay cả khi tôi đang đau đớn, tôi không phải là nỗi đau cho kẻ khác.

Tôi đã học được rằng mỗi ngày qua tôi phải vươn ra và chạm đến một người khác.

Người ta thích những cử chỉ thân thiện - cầm tay, ôm chặt hay chỉ cần một cái vỗ nhẹ vào vai.

Tôi đã học được rằng tôi còn phải học hỏi rất nhiều hơn nữa!

Translator unknown


Bản tiếng Anh của câu chuyện này

Đọc hết câu chuyện ...

Thông điệp không lời


Bản tiếng Anh của câu chuyện này. Họa sĩ tài ba Vincent Van Gogh không phải lúc nào cũng cầm cọ. Ông đã từng đến làm việc tại một mỏ than ở Borinage, Bỉ. Ở đó mọi người rất quý trọng ông vì sự hiểu biết và vốn sống của ông. Những khi rảnh rỗi, ông thường được mọi người mời nói chuyện về cuộc sống. Ông nhận ra có một số người thường phản ứng khi nghe ông nói chuyện.

Ông hiểu vì cuộc sống họ quá khổ sở đến nỗi khó tin được vào lời nói của người khác. Hằng ngày nhìn những người thợ mỏ phải làm việc trong các điều kiện cơ cực triền miên mà chỉ nhận được đồng lương chết đói, gia đình họ luôn phải chạy ăn từng bữa, ông chợt thấy xót xa khi so sánh với cuộc sống tương đối sung túc của mình.

Vào một buổi tối cuối năm lạnh lẽo, trong đoàn người thợ mỏ mệt mỏi lê từng bước chân về nhà, ông thấy một ông lão chân bước xiêu vẹo băng ngang qua cánh đồng, giấu chặt người sau miếng vải bố để tìm chút hơi ấm. Van Gogh đã lấy quần áo của mình đem cho ông lão và chỉ giữ lại một bộ duy nhất. Ông quyết định sống với khẩu phần lương thực ít ỏi và phân phát tiền lương của mình cho những thợ mỏ khốn khổ ấy.

Có lần, mấy đứa trẻ của một gia đình nọ bị sốt thương hàn, tuy bản thân cũng đang sốt, Van Gogh vẫn nhường giường của mình để bọn trẻ có chỗ nằm.

Một gia đình giàu có trong vùng gợi ý dành riêng cho ông một căn phòng trống để trọ, nhưng Van Gogh từ chối lời đề nghị này. Ông nói nếu có thiện chí, gia đình đó nên giúp những người có hoàn cảnh khó khăn hơn.

Những người trước đây thường phản ứng với ông giờ đã hiểu và rất kính trọng ông.

Ông ý thức rất rõ rằng giữa lời nói và hành động có một sự cách biệt khá lớn. Chính cuộc sống và hành động mới là tiếng nói chân tình và ấn tượng nhất, hơn tất cả mọi lời hoa mỹ. Ông nhận ra dù ở bất cứ nơi đâu, chỉ nên dùng lời nói khi thật cần thiết.

Translator unknown


Bản tiếng Anh của câu chuyện này

Đọc hết câu chuyện ...

Phép mầu nhiệm giá bao nhiêu?


Bản tiếng Anh của câu chuyện này. Khi nghe cha mẹ bàn về bệnh tình của người anh, những gì cô bé Tess biết được là người anh mắc bênh rất nặng và gia đình đã cạn kiệt tiền. Cần có một ca phẫu thuật với chi phí rất mắc mới có thể cứu được anh của bé nhưng ngặt nổi không có ai cho gia đình em vay mượn. Em nghe cha nói trong tuyệt vọng: "Chỉ có phép mầu nhiệm mới có thể cứu được thằng bé thôi".

Tess và phòng mình và lôi ra con heo đất với số tiền em đã dành dụm từ bấy lâu nay. Em vội lao ra cửa và chạy thẳng đến một tiệm thuốc tây nổi tiếng ở khu phố. Em đứng trước cửa hiệu một cách kiên nhẫn để chờ đợi sự chú ý của người dược sĩ. Đoạn em dùng chân gõ lên sàn nhà rồi hắng giọng để tạo ra tiếng động... nhưng vô ích. Cuối cùng em lấy tay gõ mạnh lên tủ kính và người dược sĩ cất giọng một cách khó chịu: "Cháu muốn gì hả cháu bé? Cháu không thấy ta đang nói chuyện với người anh xa cách mười mấy năm trời hay sau?". Tess cũng trả lời với vẻ bực bội: " Cháu cũng muốn nói chuyện với chú về người anh của cháu đây. Anh ấy đang bị bênh và cháu đến đây để mua ... phép mầu nhiệm".

"Cháu muốn mua gì?". Người dược sĩ tròn mắt tỏ vẻ không hiểu.

"Tên của anh cháu là Andrew và anh ấy chịu đựng cái gì đó đau lắm ở trong đầu. Cha cháu nói rằng chỉ có phép mầu nhiệm mới cứu được anh ấy. Vậy phép mầu nhiệm bán với giá bao nhiêu hả bác?".

"Ở đây không bán thứ đó cháu bé ạ" - giọng người dược sĩ nhỏ đi.

"Nhưng bác này ,cháu có tiền. Cái giá có cao lắm không? Nhưng nếu không đủ cháu sẽ đi mượn thêm" - giọng Tess như van nài.

Người anh của ông dược sĩ ăn mặc rất đẹp và đứng bên cạnh đó và nghe hết cuộc đối thoại. Ông hỏi Tess: "Thế cháu có bao nhiêu?". "1 đô và 11 xu và đó là những gì cháu có, nhưng cháu có thể mượn thêm được mà. Bác bán cho cháu nhé?". Tess trả lời như muốn khóc.

"Ồ, thật trùng hợp", người đàn ông mỉm cười "1 đô và 11 xu - một số tiền chính xác để mua phép màu nhiệm cho anh cháu". Sau đó, ông cầm số tiền và nắm chặt bàn tay cô bé đề nghị: "Cháu hãy dẫn ta dến nhà cháu. Ta muốn gặp anh trai và cha mẹ cháu. Để xem ta có phép mầu nhiệm mà cháu cần không nhé!".

Người đàn ông ấy chính là một bác sĩ rất nổi tiếng. Cuộc phẫu thuật đã rất thành công mà không hề tốn kém bất cứ chi phí nào. Anh trai Tess dần hồi phục và sống khoẻ mạnh. Cha mẹ Tess vui hơn lúc nào hết. Mẹ em thì thầm: "Thật sự là một phép nhiệm màu. Mẹ không biết mình phải trả bao nhiêu tiền đây? ".

Tess mỉm cười tinh nghịch. Cô bé biết chính xác số tiền đó...1 đô và 11 xu... cộng thêm sự chân thành của một đứa trẻ.

Translated by Phan Dao Khuong Nhu


Bản tiếng Anh của câu chuyện này

Đọc hết câu chuyện ...

Cái bình cuộc sống


Bản tiếng Anh của câu chuyện này. Khi bạn cảm thấy cuộc sống của mình đang ngoài tầm kiểm soát, khi một ngày dài 24h dường như không đủ để bạn làm việc, hãy nhớ đến câu chuyện về cái bình rỗng và hai tách cà phê…

Giờ triết học, vị giáo sư già ngồi yên ở bàn với một số đồ lỉnh kỉnh trước mặt. Khi giờ học bắt đầu, giáo sư không nói lời nào mà đặt một cái bình lớn lên trên mặt bàn và đổ đầy vào đó những quả bóng bàn. Sau đó ông hỏi tất cả sinh viên trong lớp và mọi người đều đồng ý rằng cái bình đã đầy.

Tiếp đó, ông giáo sư lấy ra một hộp đầy sỏi nhỏ và đổ chúng vào bình. Ông lắc nhẹ cái bình, sỏi rơi đầy các kẽ hở giữa những quả bóng bàn. Một lần nữa ông hỏi các sinh viên của mình và tất cả đều đống ý là cái bình đã đầy.

Tiếp tục công việc, vị giáo sư lấy tiếp một cái hộp đựng đầy cát và trút tất cả số cát vào bình. Tất nhiên là cát nhanh chóng lấp đầy những kẽ hở còn lại. Thêm một lần nữa giáo sư hỏi cả lớp chiếc bình đã đầy chưa. Lần này, rất quả quyết, đám sinh viên trong lớp khẳng định cái bình không thể chứa thêm một thứ gì nữa.

Mỉm cười, vị giáo sư ra ngoài lấy hai tách cà phê rồi trút cả vào trong bình. Ðám cát có sẵn nhanh chóng hút hết, và cà phê đã lấp đầy khoảng trống dù rất bé nhỏ giữa những hạt cát.

“Nào các trò”, ông giáo sư ngồi xuống ghế và bắt đầu. “Tôi muốn các trò hãy coi cái bình này như cuộc sống của các trò. Những trái bóng bàn kia là những thứ quan trọng nhất trong cuộc sống của các trò: Gia đình, con cái, sức khoẻ, những người bạn và những niềm đam mê. Nếu những thứ đó còn, cuộc sống của các trò vẫn coi như hoàn hảo.

Những viên sỏi kia tượng trưng cho những thứ khác trong cuộc sống như công việc, nhà cửa hay xe hơi.

Cát là đại diện cho những điều vặt vãnh khác. Nếu các trò bỏ cát vào bình đầu tiên, sẽ không còn chỗ trống cho sỏi hay bóng bàn. Cuộc sống cũng thế. Nếu bỏ quá nhiều thời gian, sức lực cho những thứ vặt vãnh, các trò sẽ không còn thời gian cho điều gì quan trọng hơn.

Những thứ cần quan tâm có thể là những thứ quyết định hạnh phúc của các trò. Ðó có thể là chơi với bọn trẻ, có thể là bỏ thời gian để đến khám bác sĩ định kì, có thể là dành thời gian ăn tối cùng gia đình, cũng có khi chỉ là công việc dọn dẹp nhà cửa và tống khứ đi một số thứ không cần thiết.

Hãy quan tâm đến những trái bóng bàn đầu tiên, những thứ thật sự quan trọng. Hãy biết ưu tiên cái gì đầu tiên. Những thứ còn lại chỉ là cát thôi.

Có một cánh tay đưa lên và một câu hỏi cho giáo sư: “Vậy cà phê đại diện cho cái gì thưa giáo sư?”.

Ông giáo sư mỉm cười: “Tôi rất vui khi trò hỏi câu đó. Cà phê có nghĩa là dù trò có bận rộn với cuộc sống của mình đến đâu thì vẫn luôn có thời gian để đi uống một tách cà phê với bạn bè”.

Translated by Minh Nguyet (Dan Tri)


Bản tiếng Anh của câu chuyện này

Đọc hết câu chuyện ...

Cây cầu


Bản tiếng Anh của câu chuyện này. Vùng nọ có hai anh em sống kế nhà nhau. Họ đã từng rất hòa thuận nhưng gần đây xảy ra mâu thuẫn chỉ vì một sự hiểu lầm nhỏ trong kinh doanh.

Một buổi sáng, có một người đến gõ cửa nhà người anh, John. Đó là một người thợ mộc với túi đồ nghề to tướng: "Tôi đang tìm việc và hi vọng ông có việc gì đó cần đến tôi".

"Rất đúng lúc" - John nói. "Tôi có một công việc cho anh đây. Anh nhìn thấy cái hố to đằng kia không? Đó là “tác phẩm” của hàng xóm nhà tôi, mà không, thực ra là em trai tôi. Tuần trước, có một bãi cỏ ở giữa hai nhà và nó đã lấy xe ủi đào đi tạo thành cái hố. Nó làm việc đó để chọc tức tôi nhưng hãy xem tôi trả đũa lại nó. Tôi muốn anh xây cho tôi một hàng rào cao khoảng 3m. Tôi không muốn nhìn thấy nó thêm nữa".

Người thợ đáp: "Tôi hiểu. Hãy cho tôi đinh và chỉ cho tôi chỗ ông muốn xây rào. Tôi sẽ hoàn thành tốt công việc".

John đưa cho người thợ mộc những thứ anh ta cần rồi vào thành phố, nói rằng mình sẽ quay lại vào cuối ngày.

Người thợ mộc đo đạc, xẻ gỗ, đóng đục chăm chỉ cả ngày.

Hoàng hôn xuống, cả nông trại chuyển dần về tối thì người thợ mộc cũng kết thúc công việc và John trở về. Nhưng John không thấy hàng rào đâu, thay vào đó là một cây cầu. Cây cầu nối liền hai nhà. Và ở phía đầu cầu bên kia, người hàng xóm, người em trai đang chạy lại với vòng tay mở rộng.

"Anh thật rộng lượng khi xây cây cầu này sau tất cả những gì em đã nói và làm" - Người em nói với John.

Giữa hai anh em không còn gì ngăn cách nữa. Họ chạy lại bên nhau, ôm chặt nhau sau nhưng mâu thuẫn không đáng có. Họ quay lại nhìn người thợ mộc để nói lời cảm ơn nhưng người thợ mộc đang khoác túi đồ nghề lên vai chuẩn bị ra đi.

"Không, chờ đã. Anh hãy ở lại đây với chúng tôi một vài ngày. Chúng tôi muốn cảm ơn anh" - Người anh nói.

"Tôi cũng muốn ở lại" - Người thợ lên tiếng - "Nhưng còn rất nhiều cây cầu khác đang đợi tôi".

Translated by Minh Nguyet (Dan Tri)


Bản tiếng Anh của câu chuyện này

Đọc hết câu chuyện ...

Tiến sĩ Howard Kelly và một ly sữa


Bản tiếng Anh của câu chuyện này. Một cậu bé nghèo làm nghề bán hàng rong để kiếm tiền học. Một ngày nọ nhận thấy mình chỉ còn mỗi một hào mà bụng đang đói, cậu định bụng sẽ sang nhà kế bên xin một bữa ăn. Một phụ nữ trẻ đẹp ra mở cửa. Bối rối trước cuộc gặp gỡ không chờ đợi này nên thay vì xin ăn cậu lại xin uống. Người phụ nữ đoán là cậu đang đói bèn mang cho cậu một ly sữa lớn.

Cậu chầm chậm nhấp từng ngụm sữa rồi hỏi:

- Cháu phải trả cô bao nhiêu ạ?

Người phụ nữ trả lời:

- Cháu không nợ cô cái gì cả. Mẹ cô đã dạy không bao giờ nhận tiền trả cho lòng tốt.

Cậu bé cảm kích đáp:

- Cháu sẽ biết ơn cô từ sâu thẳm trái tim cháu.

Khi ra đi, cậu cảm thấy khỏe khoắn hơn và niềm tin của cậu vào con người như cũng mãnh liệt hơn. Trước đó, cậu như muốn đầu hàng số phận.

Nhiều năm sau, người phụ nữ bị ốm nặng. Các bác sĩ địa phương đều bó tay. Họ chuyển bà đến thành phố lớn để các chuyên gia nghiên cứu căn bệnh lạ lùng này. Tiến sĩ Howard Kelly được mời đến tham vấn. Khi ông nghe tên thị trấn nơi người phụ nữ ở, một tia sáng ánh lên trong mắt ông. Ngay lập tức, ông khoác áo choàng và đi đến phòng bệnh của người phụ nữ nọ. Ông nhận ra ngay ân nhân của mình năm xưa. Quay về phòng hội chẩn, ông quyết định sẽ dốc hết sức để cứu sống bệnh nhân này. Và cuối cùng nỗ lực của ông đã được đền đáp.

Tiến sĩ Howard Kelly đề nghị phòng y vụ chuyển cho ông hóa đơn viện phí của ân nhân để xem lại. Ông viết vài chữ bên lề của tờ biên lai và cho chuyển nó đến người phụ nữ. Bà nhìn tờ hóa đơn biết rằng mình phải thanh toán nó cho đến hết đời mới xong. Bỗng nhiên có cái gì đó bên lề khiến bà chú ý và bà đọc được những dòng chữ này:

"Trị giá hóa đơn = một ly sữa"

Ký tên: Tiến sĩ Howard Kelly.

Translated by Huong Giang


Bản tiếng Anh của câu chuyện này

Đọc hết câu chuyện ...

Con nhộng và cái kén


Bản tiếng Anh của câu chuyện này. Khi con nhộng chui ra khỏi được cái kén chật hẹp của mình, nó sẽ tung bay vào bầu trời xanh rộng bao la đầy hoa và nắng ấm. Và đây là giây phút hạnh phúc nhất trong cuộc đời của nó.

Một ngày kia, tổ kén trên cành cây hé mở một chút. Một người ngồi gần đó quan sát: đã hàng mấy tiếng đồng hồ chú bướm cứ cố gắng chui ra khỏi cái lỗ nhỏ xíu ở đầu kén. Rồi bỗng chú bướm bất động, dường như nó đã kiệt sức và không thể chui ra thêm một đoạn nào nữa. Thế là người đàn ông quyết định giúp đỡ chú bướm. Ông ta lấy kéo và tỉa cái miệng kén cho rộng thêm ra. Chú bướm liền chui ra một cách dễ dàng. Nhưng nó chỉ là một thân nhộng trần trụi với đôi cánh nhăn nhúm và khô héo như chiếc lá cháy sém dưới sức nóng của ánh sáng mặt trời. Người đàn ông tiếp tục quan sát chú bướm vì ông ta nghĩ rằng thế nào đôi cánh đó cũng mọc lớn lên để kịp nâng thân bướm khi nó rời khỏi kén. Thế nhưng cả hai điều đó đều không xảy ra. Chú bướm dùng thời gian ngắn ngủi còn lại của đời mình trường quanh với một thân nhộng trần trụi và đôi cánh khô nhăn nhúm. Nó chẳng bao giờ có thể bay được.

Điều người đàn ông tốt bụng kia không biết đến là miệng kén chỉ mở rất hẹp và con nhộng kia cần phải nỗ lực hết sức mình, đến mức kiệt sức để có thể chui ra. Và cách thiên nhiên tạo ra loài bướm là chính khi con nhộng dùng hết sức để chui ra khỏi miệng kén như vậy, cơ thể nó sẽ tiết ra một loại dịch nhờn và bươm vào đôi cánh của nó để đôi cánh sẽ lớn dần lên và chú bướm có thể tung bay vào bầu trời xanh bao la ngay khi nó rời hẳn cái kén.

Nhiều lần trong đời chúng ta cần phải nỗ lực đến kiệt sức để có thể đạt được điều mình mơ ước. Nếu cuộc sống cho chúng ta một cuộc đời không có những trở ngại và gian truân, thì chính cuộc đời đó sẽ làm cho chúng ta què quặt. Chúng ta sẽ rất yếu ớt và không thể có được một sự mạnh mẽ mà lẽ ra chúng ta phải có. Chúng ta cũng chẳng thể nào tung bay được .

Translated by N.T.D


Bản tiếng Anh của câu chuyện này

Đọc hết câu chuyện ...

Bức chân dung


Bản tiếng Anh của câu chuyện này. Hai cha con nhà nọ tính tình rất gần gũi, hiền lành và thích sưu tầm các kiệt tác nghệ thuật hội hoạ có giá trị. Các tác phẩm vô giá của Picasso, Van Gogh, Monet và nhiều kiệt tác khác được treo khắp trên tường như những tài sản quý giá của gia đình.

Người đàn ông già góa vợ rất hài lòng khi thấy con trai duy nhất của mình trở thành một nhà sưu tầm tranh sành sỏi.

Con mắt lành nghề và đầu óc kinh doanh sắc bén của anh làm cho người cha rất lấy làm tự hào trong những lần làm việc với các nhà sưu tầm tranh trên toàn thế giới.

Mùa đông đến, đất nước chìm trong chiến tranh, chàng trai trẻ lên đường chiến đấu bảo vệ tổ quốc. Và chỉ sau một vài tuần ngắn ngủi, cha anh nhận được một bức điện. Đứa con trai yêu quý của ông đã mất tích trong chiến đấu.

Nhà sưu tầm nghệ thuật chờ đợi thêm thông tin trong sự lo âu, bồn chồn; ông sợ rằng mình sẽ không bao giờ được gặp lại con trai nữa. Và rồi, nỗi lo sợ của ông đã trở thành sự thật. Chàng trai trẻ đã hy sinh trong khi đưa một đồng đội đi cấp cứu.

Cô đơn và tuyệt vọng, người đàn ông già nua đón những ngày lễ Giáng Sinh đang đến gần trong sự buồn tủi, đau đớn. Niềm vui của một mùa Giáng Sinh mà ông và con trai hằng mong mỏi không còn ghé thăm ngôi nhà.

Buổi sáng hôm Giáng sinh, một tiếng gõ cửa làm ông già đau khổ thức giấc. Khi ông bước ra tới cửa, các kiệt tác nghệ thuật chỉ nhắn nhủ ông rằng con trai không còn về nhà được nữa.

Khi ông mở cửa, một người lính chào ông, trên tay anh là một gói đồ lớn. Anh giới thiệu: “Cháu là bạn của con trai bác, là người được anh ấy đưa đi cấp cứu ngày anh ấy hi sinh. Cháu xin phép vào nhà một chút được không ạ? Cháu có cái này muốn cho bác xem”.

Khi hai người bắt đầu nói chuyện, anh lính kể cho ông nghe về lòng đam mê hội hoạ của người con trai, về những điều anh đã nói. “Cháu là một hoạ sĩ ”, người lính nói, “và cháu muốn tặng bác món quà này”.

Mở gói quà ra, bức chân dung người con trai hiện ra trước mắt ông. Mặc dù thế giới không bao giờ coi đó là tác phẩm của một thiên tài, nhưng bức tranh đã khắc họa gương mặt người con trai rất chi tiết và ấn tượng. Tĩnh tâm lại, ông cảm ơn chàng lính trẻ, hứa sẽ treo bức tranh lên phía trên lò sưởi.

Một vài giờ sau khi chàng lính đã chia tay ra về, ông già bắt đầu công việc của mình. Đúng theo lời ông, bức tranh được treo phía trên lò sửa, bên cạnh các bức tranh có giá trị hàng nghìn đô la. Sau đó ông ngồi trên ghế tựa và dành cả buổi Giáng Sinh ngắm nhìn món quà mình được tặng.

Trong suốt những ngày sau đó, ông già nhận ra rằng mặc dù con trai không còn nữa, nhưng anh vẫn còn sống mãi vì hành động dũng cảm của mình. Ông sớm biết rằng con trai ông đã cứu hàng chục chiến sĩ bị thương trước khi một viên đại xuyên vào trái tim nhân ái và gan dạ của anh.

Khi tiếp tục được nghe những câu chuyện về hành động dũng cảm của con trai mình, lòng tự hào và hãnh diện của người cha đã dần xoa dịu nỗi đau trong ông. Bức hình của con trai sớm trở thành tài sản quý giá nhất, làm lu mờ hết đam mê của ông đối với những kiệt tác mà các bảo tàng trên toàn thế giới muốn có. Ông nói với láng giềng rằng đó là món quà quý giá nhất mà ông đã nhận được.

Mùa xuân năm sau đó, ông già lâm bệnh và qua đời. Giới nghệ thuật cũng dự đoán được điều này! Không để ý đến câu chuyện về người con trai duy nhất của ông, nhưng để tỏ lòng tôn kính và theo nguyện vọng của ông; những bức tranh được đem bán đấu giá. Theo di chúc của ông, tất cả các tác phẩm hội họa phải được bán đấu giá vào ngày Giáng Sinh, ngày mà ông đã nhận được món quà quý giá nhất của mình.

Ngày đó sớm đến và các nhà sưu tầm nghệ thuật trên toàn thế giới đã tụ họp để trả giá một số bức tranh đẹp nhất của thế giới.

Ngày này sẽ khiến giấc mơ của những người sưu tầm tranh trở thành hiện thực và nhiều người sẽ phải thốt lên rằng: “Tôi có được bộ sưu tập quý giá nhất”.

Cuộc đấu giá bắt đầu với bức tranh không có trong danh sách của bất cứ bảo tàng nào. Đó là bức tranh người con trai ông già. Người điều khiển cuộc bán đấu giá yêu cầu trả giá lần đầu tiên cho bức tranh. Căn phòng im lặng.

“Ai sẽ mở màn cuộc đấu giá với 100 đô la?” - ông hỏi. Nhiều phút trôi qua. Không có động tĩnh gì. Từ cuối phòng có tiếng người vang lên: “Ai quan tâm đến bức tranh đó? Đó chỉ là bức tranh người con trai ông già thôi. Hãy bỏ qua và chuyển sang những bức tranh quý giá khác đi”.

Nhiều giọng đồng tình nữa vang lên. “Không, chúng tôi phải bán bức tranh này đầu tiên”, người chủ trì cuộc bán đấu giá trả lời. “Nào, ai lấy bức tranh người con trai?”. Cuối cùng, một người bạn của ông già lên tiếng: “Ông có bán bức tranh đó với giá 10 đô la không? Tôi chỉ có tất cả từng ấy thôi. Tôi biết cậu bé, vì vậy tôi muốn mua bức tranh đó. Tôi có 10 đô la”.

“Có ai trả cao hơn không?” người chủ trì cuộc đấu giá hỏi.

Lại sau một hồi im lặng, người chủ trì cuộc đấu giá lên tiếng: “Một lần, hai lần. Kết thúc”.

Chiếc búa rơi xuống. Tiếng reo hò tràn ngập căn phòng, một số người reo lên: “Bây giờ chúng ta có bắt đầu cuộc đấu giá cho các tác phẩm quý giá này rồi!”.

Người chủ trì cuộc đấu giá nhìn vào khán giả và tuyên bố cuộc đấu giá kết thúc. Cả phòng lặng đi trong sự hoài nghi, khó hiểu. Một số người lên tiếng hỏi: “Ông nói cuộc đấu giá kết thúc nghĩa là sao? Chúng tôi không đến đây vì một bức tranh con trai của một ông già nào đó. Thế còn tất cả những bức tranh này? Có hàng triệu đô la nghệ thuật ở đây! Tôi yêu cầu ông giải thích xem trò gì đang diễn ra ở đây vậy…!”

Người chủ trì cuộc đấu giá trả lời: “Rất đơn giản. Theo di chúc của người cha, ai lấy bức tranh người con trai… sẽ được tất cả”.

Mọi thứ đều có giá trị nghệ thuật. Như điều mà các nhà sưu tầm tranh đã khám phá ra vào ngày Noel đó, vẫn dòng thông điệp:

Tình yêu của người cha, một người cha có lòng yêu thương con vô hạn, một người cha lấy người con trai làm niềm vui, niềm an ủi lớn nhất đời mình, người đã qua đời và dành cuộc đời mình cứu vớt những người khác. Và bởi tình yêu của người cha, bất cứ ai lấy bức chân dung người con trai sẽ được hưởng tất cả.

Translated by Thanh Thao (Dan Tri)


Bản tiếng Anh của câu chuyện này

Đọc hết câu chuyện ...

Khóc than ư? Cuộc đời ngắn lắm


Bản tiếng Anh của câu chuyện này. Một hôm thấy Mullah Nasruddin khóc không dứt, hàng xóm và bạn bè mới tụ tập quanh và hỏi tại sao. Nasruddin trả lời: “Chú tôi vừa qua đời”. Một người bạn hỏi: “Thế chú ấy có thân thiết với anh không?”...

… Nasruddin đáp: "Không thân lắm. Tôi chỉ gặp chú hồi nhỏ. Nhưng chú để lại cho tôi một trăm ngàn rupi".

Mấy người bạn đều ngạc nhiên: "Thế tại sao anh lại khóc về một người chú xa lạ như thế, lại khóc nhiều khi chú đã để lại cho anh một đống tiền như vậy?". Nasruddin trả lời: "Tôi không khóc cho chú ấy. Một người chú khác của tôi mất hôm qua".

Tức thì một người hàng xóm hỏi: "Ồ! Chắc hẳn chú ấy phải thân thiết với anh lắm. Đừng buồn, rồi ai cũng phải chết mà…". Nasruddin ngắt lời: "Tôi không khóc cho người chú đó. Chú ấy cũng để lại cho tôi một trăm ngàn rupi".

Những người bạn ngạc nhiên: "Thế thì cái gì khiến anh khóc?".

Nasruddin nói: "Một người chú khác của tôi chết ngày hôm kia. Chú ấy cũng để lại cho tôi một trăm ngàn rupi".

Những người bạn đồng thanh quở trách Nasruddin: "Hôm nay anh đã giàu hơn vì có thêm ba trăm ngàn rupi từ ba người chú họ xa. Thay vì ngồi khóc, anh phải vui lên".

Nasruddin thản nhiên đáp: "Làm sao tôi có thể vui vẻ được? Tôi khóc vì tôi không còn người chú nào khác chết đi và cho tôi thêm một trăm ngàn rupi nữa".

Giống như anh chàng Nasruddin, tất cả chúng ta đều khiến mình bất hạnh về những gì chúng ta không có hoặc không thể đạt được, thay vì hạnh phúc về những gì chúng ta đang có.

Trong cuộc sống, chúng ta có được một số thứ nhất định và không có một số thứ nhất định. Chúng ta có cuộc sống đáng quý, những mối quan hệ tốt đẹp, không khí, nước, hoa, cỏ xanh, và bầu trời xanh. Tất cả thiên nhiên đều bận rộn mang đến cho chúng ta niềm vui. Nhưng chúng ta không có thời gian chấp nhận những niềm vui này.

Thay vì đó, chúng ta lại bận rộn đếm những gì chúng ta không có: một căn nhà lớn hơn, quyền lực, chức vụ… Chúng ta quên rằng trong tương lai không xa, ta phải bỏ lại mọi thứ để sang thế giới bên kia.

Cuộc đời quá ngắn ngủi nếu ta chỉ nhăm nhăm theo đuổi những tài sản phù du. Bởi vì cuộc sống luôn chuyển động, chúng ta không thể hạnh phúc mãi với bất cứ điều gì trong một thời gian dài. Vậy thì tại sao lại héo hon vì những tài sản phù du ấy?

Translated by Xuan Vu (Dan Tri)


Bản tiếng Anh của câu chuyện này

Đọc hết câu chuyện ...

Bài học của cô giáo


Bản tiếng Anh của câu chuyện này. Cô giáo tiểu học Thompson, trong ngày đầu tiên của năm học mới, trước các học sinh lớp năm yêu quý của mình, đã nói dối. Cô nhìn đám học trò thân thương và nói rằng cô yêu tất cả, ai cũng như ai. Nhưng điều đó không đúng.

Bởi ở hàng ghế ngay trước mặt cô, có cậu bé đang ngồi thụp trong chỗ của mình. Cậu ấy là Teddy Stoddard.

Cô Thompson để mắt đến Teddy từ năm học trước, và biết rằng cậu bé không hoà đồng, quần áo thì lôi thôi, nhếch nhác, luôn làm người khác khó chịu. Cũng vì lẽ đó, mỗi khi chấm bài của Teddy, cô rất thích dùng bút đỏ nét to, gạch vào đó dấu “X” thật đậm và cho điểm F to tướng lên đầu bài.

Theo quy định nhà trường, các giáo viên khi nhận lớp mới đều phải xem lại học bạ của học sinh từ những năm trước. Cô Thompson “ém” học bạ của Teddy xuống cuối cùng. Nhưng rồi cô đã rất ngạc nhiên khi đọc đến nó.

Cô giáo lớp vỡ lòng của cậu bé nhận xét trong học bạ: “Teddy rất sáng dạ, hay cười. Em gọn gàng, ngăn nắp trong học tập và lao động, có đạo đức tốt, rất hòa đồng với bạn”.

Cô giáo lớp hai viết: “Teddy là một học sinh xuất sắc, được các bạn yêu quý, nhưng hoàn cảnh em rất khó khăn vì mẹ mắc bệnh nặng có thể không qua khỏi”.

Cô giáo lớp ba: “Cái chết của mẹ là nỗi đau lớn của Teddy. Em đã cố gắng học tốt nhưng không được bố quan tâm. Mọi việc nếu tiếp diễn theo chiều hướng này có thể ảnh hưởng đến cuộc đời em”.

Cô giáo lớp bốn: “Teddy không chan hòa với mọi người, không quan tâm đến việc học, còn ngủ gật trong lớp và không có nhiều bạn”.

Đến giờ, cô Thompson đã hiểu ra vấn đề và tự trách bản thân. Cô buồn hơn khi Giáng sinh đến, các học sinh mang tặng cô những món quà gói cẩn thận trong giấy sáng màu, quấn ruy băng rất đẹp, riêng Teddy gói quà rất vụng về trong miếng giấy màu nâu, thô và dày mà cậu bé lấy được từ một bao hàng ở cửa hàng tạp hóa.

Cô Thompson xót xa mở món quà đó giữa những món quà khác. Một số học sinh ồ lên cười khi thấy chiếc vòng đeo tay bằng kim cương giả đã khuyết mất vài hạt và lọ nước hoa chỉ còn một phần tư trong gói quà của Teddy. Nhưng tiếng cười của bọn trẻ vụt tắt khi cô Thompson trầm trồ khen chiếc vòng đẹp, đeo nó vào, và chấm nhẹ chút nước hoa lên cổ tay của mình.

Ngày hôm đó, Teddy Stoddard cố nán lại sau giờ học, chỉ để nói: “Cô Thompson, hôm nay mùi thơm của cô rất giống mùi thơm của mẹ em hồi trước”.

Sau khi cậu bé ra về, cô đã khóc ít nhất khoảng một tiếng đồng hồ. Kể từ ngày hôm đó, cô Thompson không còn đơn thuần dạy đọc, dạy viết, dạy làm toán. Thay vào đó, cô dạy dỗ bọn trẻ.

Cô dành sự chú ý đặc biệt đến Teddy. Khi cô làm việc với cậu bé, trí óc em dường như sống lại. Cô càng động viên, khích lệ bao nhiêu, cậu bé càng tiếp thu và phản ứng nhanh bấy nhiêu.

Đến cuối năm học, Teddy đã trở thành một trong những học sinh thông minh nhất lớp. Và bất chấp lời nói dối của mình rằng cô yêu tất cả các học sinh đều như nhau, Teddy trở thành một trong những “học trò cưng” của cô.

Một năm sau, cô nhận được một bức thư ở dưới cửa nhà, thư của Teddy. Trong thư em nói rằng cô là cô giáo tuyệt vời nhất em từng được học.

Sáu năm trôi qua, cô lại nhận được một bức thư khác từ Teddy. Cậu đã tốt nghiệp trung học, đứng thứ ba trong lớp, và cô vẫn là cô giáo tuyệt vời nhất của cậu trong suốt cuộc đời.

Bốn năm sau, cô nhận được một lá thư nữa, nói rằng mặc dù gặp nhiều khó khăn nhưng cậu vẫn tiếp tục học, phấn đấu hết mình và sẽ sớm tốt nghiệp đại học với số điểm cao nhất. Cậu đảm bảo với cô Thompson rằng cô vẫn là cô giáo tuyệt vời và đáng quý nhất cậu từng có trong cả đời mình.

Bốn năm nữa lại trôi qua, một lá thư khác được gửi đến. Lần này Teddy báo tin cho cô giáo biết sau khi lấy bằng cử nhân, anh đã quyết định học cao lên chút nữa. Lá thư cũng cho biết cô vẫn là cô giáo tuyệt vời và đáng kính nhất.

Câu chuyện chưa dừng ở đó. Mùa xuân ấy lại mang đến một lá thư. Teddy thông báo anh đã gặp một cô gái và chuẩn bị kết hôn. Cha Teddy đã qua đời cách đó hai năm và anh băn khoăn liệu cô Thompson có thể nhận lời đến dự đám cưới, ở vị trí mẹ chú rể được không.

Tất nhiên cô Thompson đồng ý. Cô đeo chiếc vòng tay khuyết hạt và dùng nước hoa mà Teddy nhớ là mẹ cậu đã dùng trong Giáng sinh cuối cùng họ được ở bên nhau.

Họ ôm chầm lấy nhau, Tiến sĩ Stoddard thì thầm bên tai cô giáo: “Cảm ơn cô đã tin tưởng vào em. Cảm ơn cô rất nhiều vì đã thêm nghị lực cho em và chỉ cho em thấy em có thể thay đổi”.

Cô Thompson, với đôi mắt tràn lệ, đáp lời: “Teddy, em nói sai rồi. Chính em là người đã dạy cô rằng cô có thể làm được những việc có ý nghĩa. Cô đã không biết dạy dỗ học sinh như thế nào cho đến khi gặp được em đấy”.

Translated by Thanh Thao (Dan Tri)


Bản tiếng Anh của câu chuyện này

Đọc hết câu chuyện ...

Thiên thần mang áo lính


Bản tiếng Anh của câu chuyện này. Gia đình tôi có một giai thoại mà cha tôi thường hay kể cho chúng tôi nghe. Đó là câu chuyện về bà nội tôi.

Năm 1949, cha tôi trở về nhà sau chiến tranh. Trên mọi nẻo đường khắp nước Mỹ, bạn có thể thấy những người lính đang xin đi nhờ xe để trở về với gia đình mình. Chuyện đó đã trở thành chuyện bình thường ở Mỹ lúc bấy giờ.

Không may là, niềm vui sướng được trở về đoàn tụ với gia đình của cha tôi nhanh chóng lụi tàn. Bà nội tôi bị bệnh rất nặng phải đưa vào bệnh viện. Thận của bà có vấn đề. Bác sĩ nói, bà phải được truyền máu ngay nếu không sẽ không qua khỏi đêm nay.

Vấn đề là ở chỗ, máu của bà nội thuộc nhóm AB-, một lọai máu cho đến ngày nay vẫn còn rất hiếm chứ đừng nói gì đến thời đó, cái thời mà chưa có các ngân hàng máu hay các chuyến bay phục vụ cho công tác y tế.

Tất cả mọi người trong gia đình đều đến làm xét nghiệm, nhưng chẳng ai có nhóm máu giống bà. Không còn hy vọng gì nữa, bà nội đang hấp hối.

Cha tôi rời bệnh viện mà nước mắt ròng ròng. Ông phải đi đón mọi người trong gia đình đến để nói lời chia tay với bà nội. Đang đi trên đường, cha tôi gặp một người lính đang vẫy tay xin đi quá giang về nhà. Đang buồn như thế, cha tôi chẳng còn tâm trí đâu mà đi giúp người khác. Nhưng, dường như có một sức mạnh nào đó khiến ông dừng xe lại cho người lạ mặt đó bước lên xe.

Trong lúc tâm trạng rối bời, cha cũng chẳng thèm hỏi xem người lính đó tên là gì, nhưng khi vừa lên xe ông ta đã nhìn thấy những giọt nước mắt của cha và hỏi xem chuyện gì đã xảy ra.

Qua dòng nước mắt, cha tôi kể cho người đàn ông xa lạ nghe chuyện mẹ mình đang nằm chờ chết trong bệnh viện vì bác sĩ không thể nào tìm ra người có nhóm máu AB- giống như bà. Và nếu họ không tìm được trước đêm nay, bà chắc chắn sẽ chết.

Không khí trong xe chợt chùng xuống. Rồi người lính xa lạ đưa tay mình cho cha tôi, lòng bàn tay xòe ra. Nằm gọn trong lòng bàn tay ông là một chiếc thẻ bài ông vừa tháo trên cổ mình xuống, trên đó ghi: nhóm máu AB-. Rồi người lính nọ bảo cha tôi quành xe trở lại, đưa ông đến bệnh viện.

Bà nội tôi sống thêm đến 47 năm nữa. Thế nhưng, cho đến tận bây giờ, cả gia đình tôi không một ai biết tên người lính đó. Cha tôi vẫn thường tự hỏi, liệu người đàn ông đó có phải là một quân nhân hay chính là một thiên thần trong trang phục người lính?
Translator unknown


Bản tiếng Anh của câu chuyện này

Đọc hết câu chuyện ...

Cà phê của cuộc đời


Bản tiếng Anh của câu chuyện này. Một nhóm học sinh cũ khá thành công và ổn định trong nghề nghiệp tập trung tại nhà một thầy giáo cũ. Câu chuyện dần dà chuyển sang những than thở về áp lực cuộc sống và công việc.

Đãi cà phê cho các vị khách của mình, thầy giáo vô bếp mang ra một ấm to cà phê và nhiều ly tách khác nhau từ ly nhựa, ly sứ, ly thủy tinh, có cái đơn giản, xinh xắn, có cái sang trọng đắt tiền. Thầy bảo các học sinh tự lấy cà phê cho mình.

Khi em nào cũng chọn được cái tách cho mình, thầy nói:

“Nếu các em để ý sẽ thấy mấy cái tách đẹp, sang trọng và đắt tiền được chọn ngay, chỉ có những cái bình thường và rẻ tiền được chừa lại. Cũng bình thường thôi, thường thì người ta chỉ muốn những cái tốt nhất cho mình. Đó cũng chính là nguồn cội của những vấn đề và áp lực”.

Hãy hiểu rõ ràng rằng bản thân cái tách không làm cà phê ngon hơn. Trong mọi trường hợp, nó chỉ làm cà phê mắc tiền hơn hay trong vài trường hợp nó át hẳn mùi vị của cà phê.

Những gì bạn muốn ở đây đơn giản chỉ là cà phê, không phải là cái tách nhưng một cách vô thức các em lại hướng đến những cái tách tốt nhất... và sau đó các em bắt đầu nghía tách của các bạn khác.

Hãy nghĩ thử xem: cuộc sống như cà phê; công việc, tiền bạc và vị trí trong xã hội là những cái tách thôi. Chúng chỉ là những công cụ để chứa đựng cuộc sống này và loại “tách” chúng ta có được không quyết định, cũng không thay đổi giá trị của cuộc sống chúng ta.

Đôi khi vì quá chạy theo những cái tách mà chúng ta bỏ mất cơ hội thưởng thức cà phê! Người hạnh phúc nhất không phải là người có tất cả những thứ tốt nhất. Họ chỉ trân trọng hết mức mọi thứ mà họ có.

Sống đơn giản. Yêu thương ngập tràn. Quan tâm sâu sắc. Nói những lời tử tế.
Translated by LAI TU QUYNH (Tuoi Tre)


Bản tiếng Anh của câu chuyện này

Đọc hết câu chuyện ...

Sự hào phóng đích thực


Bản tiếng Anh của câu chuyện này. Khi cơn bão ập đến khu thị trấn nhỏ ở gần nhà tôi, rất nhiều gia đình lâm vào cảnh khốn cùng. Ngay sau đó, các báo địa phương đều đăng tải những câu chuyện thương tâm về một số gia đình chịu hậu quả nặng nề nhất từ cơn bão.

Ngày chủ nhật nọ, một bức ảnh đập vào mắt tôi. Một phụ nữ trẻ đang đứng trước căn nhà lưu động đã bị bão phá huỷ, vẻ đau khổ hằn trên gương mặt chị. Một cậu bé chừng bảy, tám tuổi gì đó đứng cạnh, ánh mắt cúi xuống. Nắm chặt váy người mẹ là một bé gái nhìn chằm chằm vào máy ảnh, đôi mắt em mở rộng đầy lo lắng và hoảng sợ.

Bài báo kèm theo bức ảnh đó rất gần gũi với từng thành viên trong gia đình tôi. Bằng sự cảm thông sâu sắc, tôi nhận thấy gia đình họ có nhiều điểm tương đồng với gia đình mình. Đây sẽ là dịp phù hợp để dạy các con tôi về việc cần phải giúp đỡ những người kém may mắn hơn chúng. Tôi buộc bức ảnh của gia đình đó lên chiếc tủ lạnh trong nhà và bắt đầu giải thích về cảnh ngộ của họ với hai đứa con sinh đôi lên bảy là Brad và Brett và cô con gái ba tuổi Meghan.

“Chúng ta thì có quá nhiều trong khi những người nghèo khổ này thì chẳng có gì”, tôi nói. “Chúng ta sẽ chia sẻ với họ những gì ta có”.

Tôi lấy trên gác mái xuống ba chiếc hộp lớn và đặt trên sàn nhà phòng khách. Meghan đứng nhìn nghiêm nghị khi các anh và mẹ chất đầy một hộp các loại hàng hoá đóng hộp, các loại thực phẩm không bị hỏng, xà phòng và nhiều vật dụng tắm giặt đủ loại khác.

Lúc tôi phân loại quần áo của cả nhà, tôi khuyến khích các con xem qua đống đồ chơi của chúng để đem tặng những thứ chúng không thích nữa, Meghan im lặng quan sát khi các anh chất đống những đồ chơi đã bỏ xó từ lâu.

“Mẹ sẽ giúp con tìm thứ gì đó cho cô bạn gái đó khi mẹ làm xong việc này”, tôi nói.

Hai con trai tôi bỏ tất cả số đồ chơi chúng đã chọn để cho đi vào một chiếc hộp trong khi tôi bỏ đống quần áo vào hộp thứ ba. Lúc đó bé Meghan bước tới, ôm sát ngực Lucy, con búp bê nhồi bằng giẻ rách nó rất yêu quý đã rách mòn, phai màu. Con bé đứng trước hộp đựng đồ chơi, áp sát khuôn mặt tròn bé bỏng vào mặt Lucy, hôn con búp bê lần cuối sau đó nhẹ nhàng đặt nó lên trên các món đồ chơi khác.

“Ồ, con yêu. Con không phải đem tặng Lucy đâu. Con yêu nó thế cơ mà”.

Meghan nghiêm nghị gật đầu, đôi mắt ầng ậc nước. “Lucy làm cho con vui mẹ à, thế nên có thể nó cũng sẽ khiến cô bé kia được hạnh phúc”.

Nghẹn ứ trong cổ họng, tôi lặng nhìn Meghan một lúc lâu, tự hỏi làm sao tôi có thể dạy các con trai tôi bài học như con bé đã dạy cho tôi. Vì tôi chợt nhận ra ai cũng có thể cho đi những thứ họ không còn cần tới nữa. Sự hào phóng thực sự phải là có thể cho đi những gì bạn yêu thích nhất.

Lòng nhân từ chân thực là khi một đứa trẻ lên ba đem tài sản quý giá của nó dù chỉ là một con búp bê đã sờn cũ tặng cho một cô bé không quen với hy vọng con búp bê sẽ đem lại cho cô bé đó nhiều niềm vui như đã từng đem lại cho nó. Tôi đã muốn dạy bảo con nhưng rốt cuộc lại được chính con dạy lại.

Hai đứa anh trai đứng nhìn, miệng há to kinh ngạc khi thấy cô em gái đặt con búp bê yêu thích nhất vào trong hộp. Không nói lời nào, Brad đứng lên, bước vào phòng, sau đó trở ra, mang theo một nhân vật siêu nhân nó rất thích. Thoáng chút ngần ngại, Brad cầm lấy món đồ chơi, nhìn sang Meghan rồi đặt nó vào hộp, cạnh chỗ Lucy.

Một nụ cười chậm rãi rộng mở trên khuôn mặt Brett, sau đó nó đứng dậy, hai mắt lấp lánh khi tìm ra một vài chiếc ô tô làm bằng hộp diêm vốn là niềm tự hào của nó.

Tôi thật sự ngạc nhiên khi thấy hai cậu con trai cũng đã nhận ra ý nghĩa trong cử chỉ của bé Meghan. Nén vào lòng những giọt nước mắt xúc động, tôi giang tay ôm chặt cả ba đứa.

Bắt chước đứa con bé bỏng, tôi bỏ chiếc áo khoác màu nâu đã cũ có cổ tay áo bị sờn khỏi thùng quần áo và thay vào đó là chiếc áo khoác màu xanh vừa mua tuần trước. Tôi hy vọng người phụ nữ trong bức ảnh cũng sẽ thích nó như tôi.

Cho đi những gì ta không cần nữa thật dễ dàng nhưng phải tự nguyện rời bỏ những gì ta yêu thích thì thật vô cùng khó khăn, phải không nào? Tuy nhiên tinh thần đích thực của hành động cho đi ấy chính là đem tặng với cả trái tim từ chính bạn.

Translated by Do Duong (Dan Tri)


Bản tiếng Anh của câu chuyện này

Đọc hết câu chuyện ...

Một nghìn viên bi


Bản tiếng Anh của câu chuyện này. Vài tuần trước, tôi bước về phía căn nhà dưới tầng hầm, trên hai tay là cốc cà phê và tờ báo buổi sáng. Những điều bắt đầu trong buổi sáng thứ Bảy bình thường hôm ấy đã trở thành một trong những bài học mà thi thoảng cuộc sống vẫn gửi tới cho ta.

Tôi dò sóng đài trên điện thoại để nghe chương trình phát sáng thứ Bảy. Trong lúc dò, chợt tôi phát hiện giọng nói có vẻ của một người đã cao tuổi, có gì thật hấp dẫn và đó quả là một chất giọng vàng.

Bạn biết đấy, với chất giọng như vậy, có lẽ ông ta đang làm trong ngành phát thanh. Ông đang kể cho mọi người nghe về việc đã nói với ai đó câu chuyện một nghìn viên bi.

Tò mò, tôi ngồi xuống và nghe ông nói. “Này Tom, hình như anh đang rất bận việc thì phải. Tôi chắc rằng họ trả anh cũng khá phải không, nhưng thật xấu hổ nếu anh cứ suốt ngày vắng nhà vì công việc như vậy. Không thể tin được một người trẻ tuổi như anh lại cứ quần quật làm việc mỗi tuần từ 60 đến 70 tiếng để trang trải mọi thứ. Sẽ thật tồi tệ nếu anh quên không tham dự buổi biểu diễn khiêu vũ của con gái anh”.

Ông tiếp tục, “Tôi sẽ kể cho anh nghe điều này Tom ạ, một điều đã giúp tôi luôn biết nhìn trước những thứ cần ưu tiên trong cuộc sống của mình”. Và khi đó, ông lão bắt đầu giải thích lý thuyết một nghìn viên bi.

“Anh biết không, một ngày nọ tôi đã ngồi làm thử một bài toán nhỏ. Mỗi người trung bình sống được khoảng 75 năm. Tôi biết cũng có người sống thọ hơn và cũng có người chết sớm hơn nhưng về trung bình, người ta có thể sống được khoảng 75 năm”.

“Sau đó, tôi nhân 75 năm đó với 52 tuần thì được 3900, đó chính là số ngày thứ bảy mỗi người bình thường có được trong cả cuộc đời của họ. Nào tập trung vào câu chuyện của tôi đi Tom, tôi đang chuyển sang phần quan trọng rồi đây”.

“Phải đến năm 55 tuổi tôi mới có thể suy nghĩ về mọi việc kỹ càng như vậy”, ông tiếp tục, “và cho tới lúc đó, tôi đã sống qua hơn 2800 ngày chủ nhật của đời mình. Tôi hiểu rằng, nếu tôi sống được đến năm 75 tuổi, tôi sẽ chỉ còn được tận hưởng khoảng 1000 ngày chủ nhật nữa mà thôi”.

“Và rồi tôi tới một cửa hàng đồ chơi, mua tất cả những viên bi họ có. Phải đi tới ba cửa hàng tôi mới mua đủ 1000 viên bi cho mình. Tôi đem chúng về nhà, bỏ vào chiếc hộp nhựa lớn, rỗng trong xưởng làm việc, ngay cạnh chiếc đài. Từ đó, khi mỗi ngày thứ Bảy qua đi, tôi lại lấy ra một viên bi ra và ném đi”.

“Tôi nhận ra rằng, khi nhìn số lượng những viên bi ngày một giảm dần, tôi đã biết tập trung hơn cho những điều thật sự quan trọng trong cuộc sống. Không gì giống như việc nhìn thời gian tồn tại của mình trên trái đất này cứ vơi dần và nó giúp bạn biết ưu tiên mọi việc thật mau chóng”.

“Bây giờ, tôi sẽ kể cho anh nghe một điều cuối cùng trước khi tôi ngừng cuộc trò chuyện này để đưa người vợ thân yêu của tôi đi ăn sáng. Sáng nay, tôi đã nhặt viên bi cuối cùng ra khỏi chiếc hộp. Tôi hình dung nếu tôi có thể giữ nó cho tới sáng chủ nhật sau nữa thì tức là, Chúa đã ban cho tôi thêm một chút thời gian để được ở lại bên những người thân yêu…”

“Thật tuyệt khi được trò chuyện với anh Tom ạ, tôi mong anh sẽ dành nhiều thời gian hơn cho những người thân yêu của anh và tôi cũng hy vọng, một ngày nào đó sẽ gặp lại anh. Chúc buổi sáng tốt lành!”.

Bạn có thể nghe thấy rõ tiếng gác ống nghe khi ông ấy kết thúc cuộc trò chuyện. Ngay cả người điều phối chương trình cũng lặng đi trong vài giây. Tôi biết ông ấy đã khiến chúng ta phải suy nghĩ rất nhiều.

Sáng hôm đó, tôi đã định làm một số việc, sau đó tới phòng tập thể dục. Nhưng rồi, tôi quyết định chạy lên gác, đánh thức vợ bằng một cái hôn. “Dậy thôi em yêu, anh sẽ đưa em và các con đi ăn sáng”.

“Có chuyện gì đặc biệt hả anh?”, cô ấy hỏi và cười.

“Không, không có gì đặc biệt cả”, tôi nói, “Chỉ vì đã lâu lắm rồi hai vợ chồng mình chưa đi ăn cùng các con. À, khi đi mình dừng lại ở cửa hàng đồ chơi một chút nhé, anh muốn mua một vài viên bi”.

Translated by Do Duong (Dan Tri)


Bản tiếng Anh của câu chuyện này

Đọc hết câu chuyện ...

Thiên đàng và địa ngục


Bản tiếng Anh của câu chuyện này. Một người sùng đạo nói chuyện với Chúa “ Thưa Chúa, con rất muốn biết Thiên đường và Địa ngục như thế nào”. Chúa dẫn anh ta vào hai cái cửa...

Chúa mở cái cửa đầu tiên, người đàn ông nhìn vào.

Ở giữa phòng có một cái bàn tròn lớn. Ở giữa bàn có một nồi nước hầm bốc khói nghi ngút trông thật ngon và hấp dẫn, khiến cho người đàn ông nhỏ nước miếng.

Nhưng mọi người ngồi xung quanh bàn thì lại gầy guộc, xanh xao, cứ như là bị bỏ đói từ lâu vậy.

Mỗi người ai cũng đang cầm chiếc thìa có cán dài được buộc vào cánh tay. Họ có thể với chiếc thìa dài tới nồi nước hầm để múc, nhưng vì nó dài quá, và bị buộc vào tay, nên họ không thể cho vào miệng được.

Người đàn ông rùng mình trước cảnh tượng khổ sở như vậy. Chúa nói: “Đấy, con vừa nhìn thấy Địa ngục”.

Tiếp tục họ bước sang phòng thứ hai và mở cửa. Mọi thứ xung quanh đều giống phòng đầu tiên. Có một cái bàn tròn lớn với một nồi nước hầm hấp dẫn làm cho người đàn ông nhỏ nước miếng. Mọi người xung quanh cũng cầm cái thìa có cán dài, nhưng mọi người ở đây trông thật béo tốt, no nê, mãn nguyện, cười nói rôm rả.

Người đàn ông thắc mắc: “Con không hiểu, thưa Chúa”.

“Đơn giản thôi” - Chúa đáp - “Ở nơi này, mọi người biết cách đút cho nhau ăn”.

Translated by Uyen Nhi (Dan Tri)


Bản tiếng Anh của câu chuyện này

Đọc hết câu chuyện ...

Những bông hồng của Ruby


Bản tiếng Anh của câu chuyện này. Hàng xóm nhà tôi là những người kì quặc. Bọn trẻ chúng tôi thường gọi họ là Jack “điên” và Ruby “mũi đỏ”. Họ ngồi ngoài hiên uống rượu cả ngày. Tất cả những gì chúng tôi có thể nghe họ nói là: “Bọn nhóc! Tránh xa những chậu hoa hồng ra!”.

Jack và Ruby có một đứa con trai, Jack nhỏ. Anh ta đi chiến trường Việt Nam. Ngày Jack nhỏ trở về, chúng tôi đang chơi bóng trong sân nhà. Johnny cố bắt quả bóng và trượt chân ngã vào những chậu hồng.

Đau đớn, nó thét lên thật kinh hoàng nhưng những bụi hồng thì còn kinh hoàng hơn. Ít nhất cũng phải chục chậu đã bị phá huỷ hoàn toàn. Johnny vừa hét vừa nhổ gai. Đúng lúc đó một chiếc xe lao đến, người đàn ông lao về phía Johnny và hét lên: “Chúng mày làm cái quái gì thế? Hãy nhìn xem chúng mày đã làm gì với những bông hoa! Chúng mày chỉ giỏi phá hoại”.

Sau đó là những phút giây hỗn loạn. Bọn tôi chạy tán loạn. Ruby và Jack cố gắng can ngăn con trai. Anh ta tiếp tục gào thét lạc cả giọng. Ruby không phải là người tôi có cảm tình nhưng tôi thực sự thấy buồn khi nhìn cảnh bà vừa khóc vừa van nài Jack nhỏ vào nhà.

Tôi và đứa em gái chạy như bay về nhà, hốt hoảng kể lại cho mẹ nghe mọi chuyện. Mẹ mắng chúng tôi: “Mẹ đã bảo là không được chơi gần những chậu hồng rồi cơ mà. Đi ra ngoài và giúp mẹ sửa lại hoa cho bác Ruby”.

“Mẹ, con nghĩ là mẹ không thích nhà họ cơ mà” - tôi phản đối

Mẹ nghiêm khắc nhìn còn bọn tôi riu ríu bước theo.

Trong khi mẹ kiểm tra những chậu hồng bị dập, bọn tôi thì thầm đoán xem thằng Johnny có nhổ hết được gai ra không. Đúng lúc đó, cửa nhà bật mở, Ruby chầm chậm bước ra với đôi mắt đỏ hoe.

Ruby bước lại gần chỗ mẹ tôi. Hai người phụ nữ nhìn nhau. Chúng tôi nín thở, chờ xem ai sẽ là người “nổ pháo” trước.

Bỗng nhiên mẹ tôi bước về phía trước, nắm lấy tay Ruby: “Tôi rất mừng khi con trai chị đã trở về. Chắc thời gian ở Việt Nam kinh hoàng lắm. Chúng tôi rất xin lỗi về những bông hồng. Bọn trẻ sẽ sửa lại chúng. Và hi vọng đến mùa hè, những bông hoa lại có thể nở ”.

Thật lạ, Ruby mỉm cười dù hai mắt bà vẫn long lanh những giọt nước mắt: “Tôi biết chúng tôi thật khắt khe về những chậu hồng, nhưng chúng thật đặc biệt với chúng tôi. Hồi mẹ tôi từ Anh sang đây, bà đã mang theo hạt giống loài hoa yêu thích nhất để trồng. Chúng nhắc bà nhớ về quê hương”.

Bà dừng lại một chút rồi buồn buồn nói tiếp: “Kể từ khi mẹ tôi mất, dù chúng tôi đã cố gắng nhưng hoa hồng không đẹp như ngày được mẹ tôi chăm. Mẹ tôi mất khi Jack đang ở Việt Nam, chúng tôi đã giấu nó. Khi nhìn thấy những bụi hồng bị phá, nó không kiềm chế nổi”.

Bây giờ thì tôi thật sự thấy buồn cho bác Ruby. Chắc là mẹ và em gái tôi cũng thế.

“Chúng tôi cũng thích những bụi hoa này lắm!” - Mẹ tôi nói - “Để tôi giúp chị chăm sóc chúng, trước đây tôi cũng biết chút ít về trồng hoa”.

Mẹ tôi và bác Ruby cùng chăm sóc hàng rào hoa hồng suốt mùa hè đó và nhiều mùa hè sau nữa. Cả tôi và em gái tôi cũng vậy. Tình hàng xóm giữa hai gia đình ngày càng gắn bó và nhiều kỷ niệm, trong đó có cả lễ tốt nghiệp Đại học của anh Jack nhỏ.

Nhiều năm sau, khi ông Jack qua đời còn anh Jack đi làm xa, Ruby trở thành một phần của gia đình tôi. Bà không còn là Ruby “mũi đỏ” nữa mà là bác Ruby. Và hoa hồng không chỉ là hoa hồng, mẹ tôi đã biến chúng thành chiếc cầu nối giữa hai gia đình.

Translated by Nguyen Thi Minh Nguyet (Dan Tri)


Bản tiếng Anh của câu chuyện này

Đọc hết câu chuyện ...

Tình yêu mọc trên cây


Bản tiếng Anh của câu chuyện này. Từ nhỏ tôi đã mơ ước có một khu vườn trồng thật nhiều hoa. Tôi có thể ngồi hàng giờ để tưởng tượng về nó, về những loài hoa sẽ trồng, những chiếc chậu bằng đất nung màu đỏ, hay những lối đi nhỏ rải đầy cuội trắng...

Nhưng để có một vườn hoa như thế cần không ít công sức, và cần rất nhiều tiền.

Gia đình tôi có Matthew, Marvin, hai nhóc sinh đôi Alisa và Alan, và Helen. Với 5 đứa con, tôi quá bận rộn và vất vả, làm sao đủ sức nghĩ tới một khu vườn trồng hoa chỉ để ngắm.

Khi bọn trẻ còn nhỏ, đôi khi chúng muốn một thứ gì đó đắt tiền mà tôi thì không thể cho, và tôi thường nói: “Con có nhìn thấy một cái cây tiền nào ngoài kia không? Con biết là tiền không mọc trên cây mà!”.

Cuối cùng, khi cả 5 đứa nhỏ đều đã tốt nghiệp trung học, rồi đại học, rồi có sự nghiệp riêng thì tôi bắt đầu nghĩ đến khu vườn mình từng ao ước.

Một buổi sáng mùa xuân, vào Ngày của mẹ, tôi đang ở trong bếp, đột nhiên nghe tiếng ầm ĩ ngoài cửa. Tôi nhìn ra ngoài cửa sổ và thấy một cái cây. Hẳn là nó mới được trồng. Không biết là cây gì mà có những chiếc lá khá to cứ đung đưa trên cành. Tôi vội vàng đeo kính. Không thể tin vào mắt mình! - Đó là một cái cây tiền, trong sân nhà tôi.

Tôi chạy bổ ra ngoài. Có rất nhiều tờ 1 đôla được dính vào cái cây. Một tờ giấy đính kèm: “Chúng con yêu mẹ thật nhiều. Matthew, Marvin, Alisa, Alan và Helen”.

Cả nhà đã lấy những tờ đô la đó để mua dụng cụ làm vườn, lưới mắt cáo về làm hàng rào, hạt giống và cả những quyển sách dạy làm làm vườn nữa.

Đó là chuyện 3 năm về trước. Giờ thì khu vườn nhỏ của tôi đã rất xinh xắn và giống như trong trí tưởng tượng của tôi. Khi tôi ra vườn tưới nước hay bắt sâu cho những cây hoa, tôi dường như không nhớ những đứa con nhiều như trước nữa, vì tôi cảm thấy chúng luôn ở bên mình.

Tôi đã sống ở Michigan, nơi mùa đông dài và giá lạnh, còn mùa hè trôi qua trong chớp mắt. Nhưng mỗi năm, khi mùa đông đến, tôi lại nhìn ra ngoài cửa sổ và nghĩ đến những bông hoa sẽ nở rộ trong vườn vào mùa hè năm tới.

Tôi nghĩ đến những gì bọn trẻ đã làm, và lần nào cũng thế, giọt nước mắt hạnh phúc lại lăn trên má. Tôi không chắc là tiền có thể mọc trên cây không nhưng rõ ràng tình yêu thì có thể.

Translated by Minh Nguyet (Dan Tri)


Bản tiếng Anh của câu chuyện này

Đọc hết câu chuyện ...